Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÔN ĐẢO

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Bản án số: 06/2025/HS-ST

Ngày: 28-02-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Túy.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Phan Tiến Dũng.

- Bà Thái Thị Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín - Thư ký Toà án nhân dân huyện Côn Đảo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo tham gia phiên toà: Ông Bùi Hữu Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Trung V, sinh năm 1978 tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Nơi thường trú: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi ở hiện nay: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nghề nghiệp: Đi biển; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hoàng T và bà Nguyễn Thị Thanh D; gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ tư. Vợ là chị Lê Thị Đ; bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền án: Không; tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 23/8/1997, bị Tòa án nhân dân Thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 12 tháng tù về tội “Tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa”.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến ngày xét xử “có mặt”.

- Bị hại: Công ty TNHH T2;

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị L - Chức danh: Giám đốc.

Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lê Thị Hồng H, sinh năm 1982; Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “có mặt”.
  2. Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1982; Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.
  3. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “có mặt”.
  4. Ông Trần Anh C, sinh năm 1986; Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “có mặt”.
  5. Bà Nguyễn Thanh K, sinh năm 1987; Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 13/5/2024, khi neo đò tại vùng biển giữa Nhà hàng N và cảng B (tọa độ 8°39′18″B - 106°33′44″Đ) thì Lê Trung V nảy sinh ý định vào Nhà hàng N bắt trộm cá để bán nên V đeo dụng cụ lặn, mang theo 02 (hai) vợt cá (cán bằng gỗ, khung vợt bằng inox, lưới vợt màu đỏ) bơi vào Nhà hàng nổi Sang Côn Đảo. V bơi luồn dưới lối đi giữa lồng nhốt cá thứ hai và lồng nhốt cá thứ ba rồi mở dây căng lồng nhốt cá thứ hai, bơi vào trong. Vào được trong lồng cá, V lặn lần thứ nhất dùng vợt bắt được 08 (tám) con cá Sú Mì; lặn lần thứ hai dùng vợt bắt được 05 (năm) con cá Sú Mì. Sau khi bắt được 13 (mười ba) con cá, V bơi ra khỏi lồng, buộc lại dây căng lồng rồi bơi về đò, bỏ toàn bộ số cá trộm cắp được trong hầm (khoang chứa) để cất giấu. Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, V điều khiển đò mang theo 13 con cá trộm cắp được vào khu vực cảng B cặp vào đò của bà Nguyễn Thanh K thì gặp người giữ đò cho bà K là Nguyễn Văn T1. V hỏi T1 mua cá Sú Mì không? T1 gọi điện hỏi ý kiến của Trần Anh C với nội dung “Việt bán cá Sú Mì có mua không?”. Công trả giá 1.500.000đồng/kg, nếu đồng ý bán thì chiều gặp C tính tiền. T1 nói lại cho V giá mua cá và V đồng ý bán. V, T1 cân 13 con cá được 23kg (bao gồm cả trọng lượng của sọt đựng cá). Cân cá xong, V về nhà ngủ.

Đến khoảng 06 giờ 00 phút cùng ngày, ông Nguyễn Thanh S - chủ nhà hàng phát hiện bị mất 13 con cá nên tổ chức đi tìm thì phát hiện số cá bị mất trộm trên đò của T1 nên đến trình báo Công an huyện C.

Tại Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS, ngày 29/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 22,8 (hai mươi hai phẩy tám) kg cá Sú M còn sống có giá trị là 57.752.400đồng (BLĐT: 54 - 68).

Quá trình điều tra, Lê Trung V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên (BLĐT: 106 - 121).

Quá trình điều tra xác định Nhà hàng N thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn T2 (viết tắt là Công ty TNHH T2) địa chỉ trụ sở chính tại: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu do ông Nguyễn Thanh S làm chủ sở hữu. Bà Nguyễn Thị L (vợ ông S) làm Giám đốc là người đại diện theo pháp luật. Ngày 06/5/2024, ông S mua 13 con cá Sú Mì của một người tên Đ1 (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 2.200.000đồng/01kg và nuôi nhốt trong lồng bè tại Nhà hàng N để kinh doanh.

Tại Công văn số 53/CV-STHMN, ngày 28/6/2024 của Viện Sinh thái học M1 kết luận: Mẫu vật được trưng cầu giám định là loài Cá bàng chài vân song (tên thông thường: Cá S), đây là loài thuỷ sinh vật được liệt kê trong danh lục của các văn bản sau:

Văn bản Mức độ bảo tồn
Sách đỏ Việt Nam 2007 Nhóm I, Phụ lục II
Nghị định 37/2024/NĐ-CP Bậc EN (Endangered, Nguy cấp)
Danh lục đỏ IUCN Phụ lục II
Công ước CITES Phụ lục II

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

- Thu giữ của Nguyễn Văn T1: 13 cá thể cá Sú Mì trong tình trạng còn sống có trọng lượng 22,8 kg.

- Thu giữ của Lê Trung V gồm: 01 (một) đò đánh bắt hải sản bằng composite, màu xanh, chiều rộng nhất: 240 cm, chiều dài: 730 cm, 02 (hai) chân nhái, màu vàng, bên trên có chữ VINGFA, 02 (hai) vợt cá, cán bằng gỗ, khung vợt bằng inox, lưới vợt màu đỏ; 01 (một) bộ đồ thun, màu đen, trước ngực áo có in chữ ADIDAS, 01 (một) kính lặn, màu đen, 01 (một) ống thở bằng nhựa, màu trắng đen. Đây là công cụ phương tiện V sử dụng đi trộm cắp vào ngày 13/5/2024 tại Nhà hàng N (BLÐT: 79 - 82).

* Về xử lý vật chứng:

- Đối với 13 cá thể cá Sú Mì có trọng lượng 22,8kg: Đây là loài thuỷ sản nguy cấp, quý, hiếm. Căn cứ điểm a, khoản 3, Điều 4, Nghị định 38/2024/NĐ-CP05/4/2024 của Chính phủ, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng số 321/QĐ-ĐTTH ngày 15/10/2024 bàn giao cho Đội Bảo vệ nguồn lợi thủy sản huyện C xử lý theo quy định. Ngày 04/11/2024, Đội Bảo vệ nguồn lợi thủy sản huyện C đã đã phối hợp với Cơ quan CSĐT Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, Hạt Kiểm lâm thuộc Vườn Quốc gia C, Phòng Kinh tế huyện C thả 13 con cá Sú Mì còn sống tại khu vực biển Vịnh Đ thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, hợp phần bảo tồn biển Vườn Quốc gia C.

- Đối với các vật chứng: 01 (một) đò đánh bắt hải sản bằng composite, màu xanh, chiều rộng nhất 240cm, chiều dài 730cm; 02 (hai) chân nhái, màu vàng bên trên có chữ VINGFA; 02 (hai) vợt cá, cán bằng gỗ, khung vợt bằng inox, lưới vợt màu đỏ; 01 (một) bộ đồ thun, màu đen áo có in chữ ADIDAS; 01 (một) kính lặn màu đen; 01 (một) ống thở bằng nhựa, màu trắng đen: Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo ra Quyết định chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo bảo quản, chờ xử lý.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị L không yêu cầu (BLÐT: 128, 133).

Tại bản Cáo trạng số: 03/CT-VKSCĐ ngày 08/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo truy tố bị cáo Lê Trung V về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Lê Trung V phạm tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
  • - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
  • - Về xử lý vật chứng:
  • + Đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) đò đánh bắt hải sản bằng composite, màu xanh, chiều rộng nhất 240cm, chiều dài 730cm.
  • + Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) chân nhái, màu vàng bên trên có chữ VINGFA; 02 (hai) vợt cá, cán bằng gỗ, khung vợt bằng inox, lưới vợt màu đỏ; 01 (một) bộ đồ thun, màu đen áo có in chữ ADIDAS; 01 (một) kính lặn màu đen; 01 (một) ống thở bằng nhựa, màu trắng đen.
  • Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là Công ty TNHH T2 do bà Nguyễn Thị L làm đại diện theo pháp luật và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Thanh S không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo truy tố, không tranh tụng tại phiên tòa và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa đủ cơ sở kết luận: Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 13/5/2024, tại Nhà hàng N thuộc khu vực Cảng B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; bị cáo Lê Trung V đã lén lút trộm cắp 13 (mười ba) con cá Bàng chài vân sóng (cá S), tổng trọng lượng 22,8kg, trị giá 57.752.400đ (Năm mươi bảy triệu bảy trăm năm mươi hai ngàn bốn trăm đồng) của Công ty TNHH T2 do bà Nguyễn Thị Lụa L1 đại diện theo pháp luật. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi “Trộm cắp tài sản” là phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh, trật tự của địa phương. Sự cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội đồng thời mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo để quyết định một mức hình phạt phù hợp.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Không có.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
  • - Về nhân thân: Ngày 23/8/1997, bị Tòa án nhân dân Thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 12 tháng tù về tội “Tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa”.

Như vậy, cần áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[5] Các hành vi khác:

  • - Đối với Nguyễn Văn T1, Trần Anh C là người mua 13 con cá Sú Mì do bị cáo V trộm cắp vào ngày 13/5/2024: Khi mua T1, C không biết cá do bị cáo trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý T1 và Công tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự là có cơ sở.
  • - Đối với hành vi mua bán, lưu giữ 22,8kg cá Sú M (13 con) của Công ty TNHH T2: Ngày 12/11/2024, Ủy ban nhân dân huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản đối với Công ty TNHH T2 với mức phạt tiền là 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng) quy định tại Điểm c, khoản 2, Điều 41, Nghị định 38/2024/NĐ-CP05/4/2024 của Chính phủ là phù hợp.
  • - Đối với hành vi mua bán, lưu giữ 22,8kg cá Sú Mì (13 con) vào ngày 13/05/2024 của Trần Anh C: Ngày 30/12/2024, Ủy ban nhân dân huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản đối với ông Trần Anh C mức phạt tiền là 55.000.000đ (Năm mười lăm triệu đồng) theo quy định tại Điểm c, Khoản 2, Điều 41, Nghị định 38/2024/NĐ-CP05/4/2024 của Chính phủ là phù hợp.
  • - Đối với người đàn ông tên Đ1 bán cá Sú Mì cho ông S, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đang tiến hành xác minh, làm rõ xử lý sau.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là Công ty TNHH T2 do bà Nguyễn Thị L làm đại diện theo pháp luật và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Thanh S không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 13 cá thể cá Sú Mì có trọng lượng 22,8kg: Quá trình điều tra xác định đây là loài thuỷ sản nguy cấp, quý, hiếm. Căn cứ điểm a, khoản 3, Điều 4, Nghị định 38/2024/NĐ-CP05/4/2024 của Chính phủ; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng số 321/QĐ-ĐTTH ngày 15/10/2024 bàn giao cho Đội Bảo vệ nguồn lợi thủy sản huyện C xử lý theo quy định. Ngày 04/11/2024, Đội Bảo vệ nguồn lợi thủy sản huyện C đã đã phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, Hạt Kiểm lâm thuộc Vườn Quốc gia C, Phòng Kinh tế huyện C thả 13 con cá Sú Mì còn sống tại khu vực biển Vịnh Đ thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, hợp phần bảo tồn biển Vườn Quốc gia C là phù hợp.
  • - Đối với 01 (một) đò đánh bắt hải sản bằng composite, màu xanh, chiều rộng nhất 240cm, chiều dài 730cm. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 02 (hai) chân nhái, màu vàng bên trên có chữ VINGFA; 02 (hai) vợt cá, cán bằng gỗ, khung vợt bằng inox, lưới vợt màu đỏ; 01 (một) bộ đồ thun, màu đen áo có in chữ ADIDAS; 01 (một) kính lặn màu đen; 01 (một) ống thở bằng nhựa, màu trắng đen. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Trung V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự:

Xử phạt Lê Trung V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt để chấp hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) đò đánh bắt hải sản bằng composite, màu xanh, chiều rộng nhất 240cm, chiều dài 730cm.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) chân nhái, màu vàng bên trên có chữ VINGFA; 02 (hai) vợt cá, cán bằng gỗ, khung vợt bằng inox, lưới vợt màu đỏ; 01 (một) bộ đồ thun, màu đen áo có in chữ ADIDAS; 01 (một) kính lặn màu đen; 01 (một) ống thở bằng nhựa, màu trắng đen.

(Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/01/2025).

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là Công ty TNHH T2 do bà Nguyễn Thị L làm đại diện theo pháp luật và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Thanh S không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Trung V phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/02/2025). Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo; đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì thời hạn này được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - PV 06 CA tỉnh BR-VT;
  • - PC 10 CA tỉnh BR-VT;
  • - VKSND huyện Côn Đảo;
  • - Công an huyện Côn Đảo;
  • - Chi Cục THADS huyện Côn Đảo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Túy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Trung V Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger