Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HIỆP HÒA

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST

Ngày 27/02/2025

Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Đô
  2. Ông Nguyễn Ngọc Trứ

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Huệ, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên toà: Ông Giáp Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 17/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 234/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20/01/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17/02/2025 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Chị Vy Thị Thúy S, sinh năm 2000.(Xin vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn P, xã G, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

+ Bị đơn: Anh Hà Viết T, sinh năm 1996.(Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, chị Vy Thị Thúy S trình bày:

Chị và anh Hà Viết T có được tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện C, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 08/3/2023. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống tại thôn C, xã M, huyện H. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Mâu thuẫn của hai vợ chồng chị đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành. Đến tháng 6/2024 chị đưa con về nhà mẹ ở Lạng Sơn sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó đến nay, trong thời gian sống ly thân vợ chồng cắt đứt mọi liên lạc, hôn nhân thực tế đã không tồn tại. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên chị xin ly hôn anh Hà Viết T.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là cháu Hà Vy Minh N, sinh ngày 29/01/2024 hiện con chung khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang ở cùng chị. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ, ruộng canh tác chung: Vợ chồng chị không có gì, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại bản tự khai anh Hà Viết T trình bày: Anh và chị Vy Thị Thúy S có được tự do tìm hiểu rồi tự nguyên đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng anh chung sống hạnh phúc được sáu tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Hai vợ chồng ly thân từ tháng 6/2024 cho đến nay, không ai quan tâm ai nữa. Gia đình hai bên đã hòa giải nhiều lần để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không thành. Nay anh vẫn còn tình cảm với chị S nên anh không đồng ý ly hôn anh đề nghị Tòa án cho vợ chồng anh thêm thời gian để đoàn tụ với nhau.

Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là cháu Hà Vy Minh N, sinh ngày 29/01/2024 hiện nay con chung vẫn khỏe mạnh và phát triển bình thường đang ở cùng chị S. Nay ly hôn vì con chung con nhỏ nên anh đồng ý giao cháu N cho chị S tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng. Chị S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung anh nhất trí.

Về tài sản chung, công nợ, ruộng canh tác chung: Vợ chồng anh không có gì, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đảm bảo theo quy định. Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật, không đến tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải.

- Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 271, khoản 1 Điều 273; Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xử:

Về quan hệ hôn nhân. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vy Thị Thúy S. Xử cho chị Vy Thị Thúy S được ly hôn anh Hà Viết T.

Về con chung: Giao cho chị Vy Thị Thúy S nuôi con chung Hà Vy Minh N, sinh ngày 29/01/2024, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị S.

Về tài sản chung, công nợ, ruộng canh tác chung: Chị S, anh T xác định không có gì, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết;

Về tiền án phí: Chị Vy Thị Thúy S phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ ý kiến của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Vy Thị Thúy S có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Hà Viết T cư trú tại thôn C, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc vắng mặt của đương sự: Chị S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị S. Anh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn thấy: Chị S và anh T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân gia đình. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống tại thôn C, xã M, huyện H. Vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc được 06 (sáu) tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng trong quan điểm sống dẫn đến vợ chồng hay xảy ra cãi vã. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 6/2024 đến nay, cắt đứt mọi liên lạc không ai quan tâm đến ai. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Vy Thị Thúy S vẫn kiên quyết giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh Hà Viết T. Bị đơn anh T cũng xác định vợ chồng có mâu thuẫn và sống ly thân. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Vy Thị Thúy S và anh Hà Viết T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thấy cần xử cho chị Vy Thị Thúy S được ly hôn anh Hà Viết T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị S và anh T cùng thừa nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Hà Vy Minh N, sinh ngày 29/01/2024, hiện cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang ở cùng chị S. Quá trình giải quyết vụ án chị S có nguyện vọng được nuôi con chung, anh T cũng đồng ý để chị S nuôi con chung, Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu N hiện chưa đủ 36 tháng tuổi, chị S đang trực tiếp nuôi cháu N và có đủ điều kiện nuôi con nên cần giao cháu N cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chị S không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét.

Về quyền thăm con: Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung, công nợ, ruộng canh tác chung: Chị S và anh T xác định không có gì không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí: Chị Vy Thị Thúy S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
  2. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vy Thị Thúy S: Xử cho chị Vy Thị Thúy S được ly hôn anh Hà Viết T.
  3. Về con chung: Giao cho chị Vy Thị Thúy S được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Hà Vy Minh N, sinh ngày 29/01/2024. Chị S không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở họ thực hiện quyền này.
  4. Về tài sản chung, công nợ, ruộng canh tác chung: Chị S và anh T xác định không có gì không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  5. Về tiền án phí: Chị Vy Thị Thúy S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị S đã nộp tại biên lai số 0004191 ngày 11/10/2024 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa thu. Xác nhận chị S đã nộp đủ tiền án phí.
  6. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Hiệp Hòa;
  • - VKSND tỉnh Bắc giang;
  • - Chi cục THADS huyện Hiệp Hòa;
  • - UBND xã Gia Lộc, huyện Chi Lăng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sinh - Tùng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger