|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN TỈNH KIÊN GIANG Bản án số:06/2025/HS-ST Ngày: 26/02/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Đăng
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Vũ Thanh Học
2. Ông Nguyễn Văn Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Như Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Chao Thị Mỹ Hường – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2024/TLST- HS ngày 25 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo: Trương Văn T, sinh năm 1981, N sinh: Kiên Giang. Nơi thường trú: ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Nơi ở: Khu phố E, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn): 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn Q và bà Trần Thị C; vợ Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1982; Con có 04 người lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án: Không, Tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 22/08/2003 bị Ủy ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang phạt cải tạo tại xã phường 06 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Ngày 17/06/2004 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 48/2004/HS-ST, đã chấp hành xong và xóa án tích.
Tạm giữ: 30/7/2024.
Tạm giam: Từ ngày 08/8/2024 cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên Tòa).
Bị hại: Ông Đinh Công D, sinh năm 1978 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số E, đường C, khu phố A, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1988 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số E, Cầu C, Khu phố A, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.
2.Ông Nguyễn Huy H1, sinh năm 2005 (Có mặt).
Địa chỉ: Tổ A, Khu phố E, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.
3.Bà Lưu Hòa X, sinh năm 1981 (Xe máy Lâm Trạng) (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số G M, phường R, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Người làm chứng:
1. Bà Mạc Tuyết N1, sinh năm 1982 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ 1, Khu phố 2, phường Pháo Đài, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
Chỗ ở: Tổ 18, Khu phố 5, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
2. Ông Trương Văn N2, sinh năm 1974 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A, khu phố T, phường M, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.
3. Ông Huỳnh Hoa S, sinh năm 1970 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A, Khu phố E, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.
4. Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1982 (Có mặt).
Địa chỉ: Tổ A, Khu phố E, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.
5. Chị Trương Thị K, sinh năm 2009 (Có mặt).
Người đại diện hợp pháp cho cháu K: Bà Nguyễn Thị Kim H sinh năm 1982.
Địa chỉ: Tổ A, Khu phố E, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.
6. Em Trương Văn T1, sinh năm 2011 (Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp cho cháu T1: Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Tổ A, Khu phố E, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.
7. Ông Danh Thành T2, sinh năm 1980 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ D, ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
8. Ông Nguyễn Văn N3, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ 5, khu phố Minh Long, thị trấn Minh Lương, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang
9. Ông Phạm Văn B, sinh năm 1974 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số G, Cầu C, Khu phố A, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ ngày 29/7/2024 ông Đinh Công D sinh năm 1978, phát hiện nhà mình tại địa chỉ số E khu phố A, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang bị người khác đột nhập vào nhà qua đường cửa sổ hông nhà lấy trộm tài sản gồm 8.400 tờ vé số mở thưởng ngày 31/7/2024 và 35.000.000đ tiền Việt Nam, sau đó trình báo công an.
Đến 8 giờ 30 phút ngày 29/7/2024 bằng các biện pháp nghiệp vụ cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố H phát hiện Trương Văn T đang mang vé số đến đại lý vé số “Mít” thuộc xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang bán nên đã phối hợp với công an xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang kiểm tra T thì phát hiện bên trong bọc nylon của T đang cầm có tổng cộng 6.408 tờ vé số mở thưởng ngày 31/7/2024 mệnh giá in 10.000đ/1 tờ; tiền Việt Nam 8.610.000đ; 12 tờ vé số trúng thưởng giải tám số “57” ngày 28/7/2024 trị giá 100.000 đồng/tờ; 03 tờ vé số trúng thưởng giải bảy ba số “448” ngày 28/7/2024 trị giá 200.000 đồng/tờ; 11 tờ vé số trúng thưởng giải tám hai số “91” ngày 27/7/2024 trị giá 100.000 đồng/tờ; 06 tờ vé số trúng thưởng giải bảy ba số “771” ngày 27/7/2024 trị giá 200.000 đồng/tờ; 02 tờ vé số trúng thưởng giải tám hai số “66” ngày 22/7/2024 trị giá 100.000 đồng/tờ, nhận thấy số tài sản này phù hợp với số tài sản mà ông ông Đinh Công D trình báo mất trộm nên Cơ quan điều tra đã lập biên bản tạm giữ đối với tài sản nêu trên.
Quá trình điều tra, truy tố T không thừa nhận hành vi phạm tội trộm cắp tài sản: T khai vào khoảng 23 giờ ngày 28/7/2024, có mặc áo khoác Jean màu xanh dài tay, quần Jean lửng màu xanh nhạt, mang đôi dép kẹp, màu nâu đen, đầu có đội nón bảo hiểm 3 sọc da điều khiển xe môtô mang biển kiểm soát số 6856-0906
nhãn hiệu Wave màu xanh đậu tại khu vực bờ kè chợ H2, sau đó T đi bộ mua thuốc lá hút và xách một bọc tôm khoảng 2kg mà một người đi ghe cập bến ở chợ H2 cho T (T khai vì trước đây T đi bán kem có cho con người này kem nên người này cho lại T tôm chứ T không biết người đàn ông này là ai địa chỉ ở đâu), sau đó T cầm bọc tôm để đi sang đường C gửi nhà ông Phạm Văn B nhưng không gặp được ông B nên quay lại Đến khoảng 01 giờ 30 ngày 29/7/2024, T điều khiển xe môtô trên đi từ bãi đất trống khu vực khách sạn R đi vào chợ H2, đến đoạn đường M thì rẽ trái đi vào đường L và Phạm Văn K1 (khu phố 1, phường B), đi thẳng đến ngã ba đường T rẽ phải đi về A, đến chùa G (khu phố I, phường B) nhìn thấy có một người thanh niên bỏ một cái bọc đen xuống đất nên T nhặt lấy bỏ lên xe máy chạy đi đến Mũi Ông C1 (xã T, H) thì dừng lại kiểm tra thì phát hiện nhiều tờ tiền có mệnh giá khác nhau và nhiều cọc vé số chưa mở thưởng. Sau đó, T điều khiển xe mô tô đến chợ R1 (thành phố R, Kiên Giang) để bán lại vé số, do không có người mua nên T tiếp tục chạy đến khu vực xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang để bán, thì bị Công an mời làm việc, T khẳng định vào thời gian 00 giờ 50 phút đến 01 giờ 35 phút cùng ngày không có mặt tại nhà ông D, không lất trộm tài sản của ông D, số tiền và vé số là do T nhặt được.
Tại phiên tòa qua xét hỏi và kết hợp với các tài liệu chứng cứ khác T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình và khai nhận như sau: Do trước đó T đã nhiều lần đến đại lý vé số N4 do ông D làm chủ lấy vé số về cho con mình bán nên T đã có ý định đột nhập vào nhà ông D để trộm cắp tài sản. Vào lúc 00 giờ 50 phút ngày 29/7/2024, ở đường C, Trương Văn T mặt áo khoác Jean màu xanh dài tay, quần Jean lửng màu xanh nhạt, mang đôi dép kẹp, màu nâu đen, không đeo khẩu trang xuất hiện trước nhà ông D, trên tay không cầm bọc gì cả, sau đó khoảng thời gian từ 01 giờ 35 phút ngày 29/7/2024 T đeo khẩu trang, đột nhập vào nhà ông D bằng đường bên hông nhà ông D và dùng một cây kìm bằng kim loại, nhãn hiệu TOP, dài 15cm, cán được bọc lớp nhựa màu đỏ của T lấy trong cốp xe của T và một cây kìm cộng lực (T mua trước đó ở một cửa hàng trên đường T thành phố H) để cắt những thanh nhôm cửa sổ của nhà ông D rồi đột nhập vào nhà lấy trộm tài sản, đến 01 giờ 55 phút cùng ngày thì T bước ra mặt đeo khẩu trang và trên tay cầm bọc nylong màu xanh và bọc ny long màu đen và đi bộ trên đường C; từ 01 giờ 56 phút thì T đeo khẩu trang đi trên đường C về hướng đường C, đến 02 giờ 03 phút T đi từ đường C
sang đường C, từ 02 giờ 07 phút T đi trên đường C về hướng đường T; từ 02 giờ 28 phút, T đi từ Tỉnh lộ 28 đến ngã ba đường L (trước chùa G), trong khoảng thời gian trên T dừng lại mở bọc nylon ra kiểm đếm số tài sản trộm cắp được với số tiền khoảng 8.000.000đ và các cọc vé số, sau đó T gom bỏ vào một bọc nylon màu đen rồi trên tay cầm bọc nylon màu đen tiếp tục đi bộ; từ 02 giờ 33 phút T rẽ trái đi vào đường L đến ngã tư giao nhau với đường P, T rẽ phải đi xuống đường Phạm Văn K1, đến hẻm A T đi vào hẻm A đi xuống hướng chợ H2 và điều khiển xe về Rạch Giá tiêu thụ bán vé số, trên đường Đ mua một cái điện thoại Oppo ở một cửa hàng với giá 1.600.000đ (tiền riêng của T), sau đó do sợ bọc nylon có tiền và vé số bị rớt nên T tiếp tục ghé cửa hàng không rõ họ tên mua một chiếc cặp với giá 90.000₫ (Chín mươi nghìn đồng) và bỏ toàn bộ tài sản trộm cắp được vào cặp rồi tiếp tục điều khiển xe đến địa phận xã M huyện C thì T ghé vào đại lý vé số “Mit” và gợi ý bán vé số trên, chủ đại lý vé số xem một lúc thì công an xã M mời T về làm việc.
Xét thấy lời nhận tội của T phù hợp với các tài liệu chứng cứ mà Cơ quan Cảnh sát điều tra thành phố Hà Tiên tiến hành xác minh thu thập được như: Kiểm tra Camera an ninh trên các tuyến đường phường B, thời gian từ 01 giờ đến 03 giờ sáng ngày 29/7/2024 như lời trình bày của T tại cơ quan điều tra thì không phát hiện T có mặc áo khoác Jean màu xanh dài tay, quần Jean lửng màu xanh nhạt, mang đôi dép kẹp, màu nâu đen, đội nón bảo hiểm đi xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh biển kiểm soát 68S6 - 0960 qua các đoạn đường như T trình bày tại cơ quan điều tra, mà chỉ phát hiện T đi trên các đoạn đường có Camera an ninh thu thập được như lời khai của T tại phiên tòa.
Đặc biệt tại thời điểm vào lúc 00 giờ 50 phút ngày 29/7/2024 T xuất hiện trước nhà ông D mặt không đeo khẩu trang trên tay cũng không cầm gì do đó các lời khai trước đó T cho rằng trên tay có cầm bọc Tôm là không có cơ sở.
Mặt khác, tiến hành cho Nguyễn Thị Kim H là vợ của T, Nguyễn Huy H1 và Trương Thị Kiều C2 là con của T, ông Trương Văn N2 là anh ruột của T, ông Huỳnh Hoa S chủ nhà trọ T thuê ở, bà Mạc Tuyết N1 người ở sát bên phòng trọ của T xem các Video mà cơ quan cảnh sát điều tra thu thập được thì tất cả đều nhận diện được T qua video có hình ảnh đường C tại khu vực mất trộm tài sản và các đoạn đường mà T đi qua, kết quả bà H, H1, K, N2, S và N1 đều nhận diện được và xác định người
trong Video chính là ông Trương Văn T.
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 29/KL-HĐĐGTS ngày 11/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H, kết luận:
- 6.408 tờ vé số ngày 31/7/2024, đài Sóc Trăng từ Công ty TNHH MTV bán lại cho đại lý tại thời điểm ngày 29/7/2024 có trị giá là 55.877.760 đồng.
- Vé trúng thưởng ngày 28/7/2024, đài Kiên Giang gồm: 12 tờ vé số 188857 trúng hai số 57 trị giá 100.000 đồng/tờ và 03 tờ vé số 218448 trúng 448 trị giá 200.000 đồng/tờ từ đại lý bán lại cho người bán lẽ và mở trúng thường tại thời điểm ngày 29/7/2024 có giá trị là 1.800.000 đồng.
- Vé trúng thưởng ngày 27/7/2024, đài Long An gồm: 11 tờ vé số 169491 trúng hai số 91 trị giá 100.000 đồng/tờ, từ đại lý bán lại cho người bán lẽ và mở trúng thưởng tại thời điểm ngày 29/7/2024 có giá trị là 1.100.000 đồng.
- Vé trúng thưởng ngày 27/7/2024, đài Hậu Giang gồm: 06 tờ vé số 377771 trúng ba số 771 trị giá 200.000 đồng/tờ, từ đại lý bán lại cho người bán lẽ và mở trúng thưởng tại thời điểm ngày 29/7/2024 có giá trị là 1.200.000 đồng.
- Vé trúng thường ngày 22/7/2024, đài Đồng Tháp gồm: 02 tờ vé số 411966 trúng hai số 66 trị giá 100.000 đồng/tờ, từ đại lý bán lại cho người bán lẽ và mở trúng thưởng tại thời điểm ngày 29/7/2024 có giá trị là 200.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản: 60.177.760 đồng.
* Tại bản Kết luận giám định số 984/KL-KTHS ngày 20/9/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh K kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép chỉnh sửa nội dung trong các video gửi giám định.
Tại bản cáo trạng số 50/CT-VKSHT, ngày 24/12/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên đã truy tố bị cáo Trương Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận. Sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra đã có đủ các yếu tố để xác định hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, Điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Trương Văn T với mức án đề nghị từ 3 (ba) năm đến 3 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù.
*Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra ông D khai bị mất số tiền 35.000.000đ tiền Việt Nam và yêu cầu bị cáo Trương Văn T bồi thường tài sản thiệt hại 35.000.000 đồng tuy nhiên số tài sản thu được trên người T thực tế là 8.610.000đ đã trả lại cho ông D do đó số tài sản còn lại mà ông Đinh Công D khai bị mất còn lại là 26.390.000 đồng là chưa đủ cơ sở, tuy nhiên hiện nay gia đình bị cáo do Nguyễn Huy H1 đã tự nguyện đưa cho ông D số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) (đã đưa trước đó 13.000.000đ, sau đó thêm 7.000.000đ nữa) để bồi thường khắc phục hậu quả, nay các bên không có yêu cầu gì nên miễn xét. Bị cáo T không phải trả thêm cho ông D tiền nào nữa.
Đối với tài sản còn lại gồm 1.992 tờ vé số mở thưởng ngày 31/7/2024 trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố không có căn cứ để xử lý tài sản trên nên không xem xét.
Xử lý vật chứng:
+ Vé số đài Sóc Trăng mở thưởng ngày 31/7/2024:
- - 01 cọc đầu số 051170 đến số 951170=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 077756 đến số 977756=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 044225 đến số 944225=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 022236 đến số 922236=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 006634 đến số 906634=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 077743 đến số 977743=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 032335 đến số 932335=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 006638 đến số 906638=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 022289 đến số 922289=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 022892 đến số 922892=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 077754 đến số 977754=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 077753 đến số 977753=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 077724 đến số 977724=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 091118 đến số 991118=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 091113 đến số 991113=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 091108 đến số 991108=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 091110 đến số 991110=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 079977 đến số 979977=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 026440 đến số 926440=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 022226 đến số 922226=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 022268 đến số 922268=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 022299 đến số 922299=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 022252 đến số 922252=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 022295 đến số 922295=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 022290 đến số 922290=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 032322 đến số 932322=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 032386 đến số 932386=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 022862 đến số 922862=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 057572 đến số 957572=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 057579 đến số 957579=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 057574 đến số 957574=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 057544 đến số 957544=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 057559 đến số 957559=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 089898 đến số 989898=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 089865 đến số 989865=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 089863 đến số 989863=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 048416 đến số 948416=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 065045 đến số 965045=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 044227 đến số 944227=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 048417 đến số 948417=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 022861 đến số 922861=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 089804 đến số 989804=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 044283 đến số 944283=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 051181 đến số 951181=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 065080 đến số 965080=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 006631 đến số 906631=120 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 076763 đến số 876763=108 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 046694 đến số 746694=96 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 016180 đến số 716180=96 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 001174 đến số 801174=108 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 080944 đến số 780944=96 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 088835 đến số 788835=96 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 092250 đến số 792250=96 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 277010 đến số 977010=96 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
- - 01 cọc đầu số 232307 đến số 932307=96 vé ngày 31/7/2024 đài Sóc Trăng.
+ Vé số trúng thưởng ngày 28/7/2024 đài K3:
- - 12 tờ vé số 188857 trúng hai số 57 trị giá 100.000 đồng/tờ.
- - 03 tờ vé số 218448 trúng 448 trị giá 200.000 đồng/tờ.
+ Vé số trúng thưởng mở ngày 27/7/2024 đài Long An:
- - 11 tờ vé số 169491 trúng hai số 91 trị giá 100.000 đồng/tờ.
+ Vé số trúng thưởng ngày 27/7/2024 đài K3:
- - 06 tờ vé số 377771 trúng ba số 771 trị giá 200.000 đồng/tờ.
+ Vế số trúng thưởng ngày 22/7/2024 đài Đồng Tháp:
- - 02 tờ vé số 411966 trúng hai số 66 trị giá 100.000 đồng/tờ.
- Tiền Việt Nam đồng 8.610.000 đồng.
Các vật chứng trên đã trả lại cho người bị hại.
- - 01 cặp nhãn hiệu Adidas màu đen – xanh (đã qua sử dụng).
- - 02 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia bàn phím (đã qua sử dụng).
- - 01 điện thoại di động Iphone 10 màu trắng (đã qua sử dụng).
- - Tiền mặt 508.000 đồng (Năm trăm lẻ tám nghìn đồng).
Các tài sản trên đã lại cho bị cáo.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A13 màu đen (đã qua sử dụng).
Vật chứng trên hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên trả lại cho bị cáo.
- - 01 (một) đôi dép kẹp, chất liệu da, màu nâu đen (đã qua sử dụng).
- - 01 áo thun ngắn tay, mặt trước và mặt sau có hình chim đại bàng (đã qua sử dụng).
- - 01 quần Jean lửng màu đen (đã qua sử dụng).
- - 01 áo khoác jean màu xanh, tay dài (đã qua sử dụng).
- - 02 thanh kim loại tròn, mỗi thanh dài 51 cm, đường kính 01 cm.
- - 01 thanh kim loại tròn, dài 5,2 cm, đường kính 01 cm.
Vật chứng trên hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- - 01 chiếc xe môtô biển kiểm soát số 68S6-0960 (đã qua sử dụng) (chiếc xe này bị cáo mua ở cửa hàng mua bán kinh doanh xe máy cũ (Xe Máy L) do bà Lưu Hòa X làm chủ mà, hiện nay bị cáo còn thiếu nợ 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
- - 01 cây kìm cộng lực làm bằng kim loại, nhãn hiệu BERRYLION(R), dài 36 cm, cán được bọc lớp nhựa màu xanh, có hai lưỡi làm bằng kim loại sắt, trên thân kìm có dòng chữ BERRYLION(R), No: 042003014.
- - 01 cây kìm làm bằng kim loại, nhãn hiệu TOP, dài 15 cm, cán được bọc lớp nhựa màu đỏ (đã qua sử dụng)
Các vật chứng trên hiện đang bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên, đề nghị tịch thu sung quỹ.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đã biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét xử mức án nhẹ để bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng, chăm lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng, các quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên Tòa bị cáo cho rằng trong quá trình điều tra bị cán bộ điều tra đánh đập nhưng Hội đồng xét xử không có cơ sở
xác định lời trình bày của bị cáo là có căn cứ, do đó các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Qúa trình điều tra, truy tố bị cáo Trương Văn T không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo cho rằng bọc nylon trong đó có tiền là các tờ vé số là do bị cáo lượm được chứ không có lấy trộm như cáo buộc.
Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, khai ra số tiền và vé số là do bị cáo lấy trộm chứ không phải nhặt được. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được như lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác như các đoạn video được trích xuất từ các Camera an ninh trên các đoạn đường mà bị cáo đi qua, các phương tiện phạm tội là kìm cộng lực, và 01 kìm làm bằng kim loại được bọc bởi lớp nhựa mà đỏ mà bị cáo khai nhận dùng để bẻ các thanh nhôm cửa sổ cũng phù hợp với tang vật mà cơ quan cảnh sát điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở khẳng định:
Vào khoảng 01 giờ 35 phút, ngày 29/7/2024, tại số E, đường C, khu phố I, phường B, thành phố H, Kiên Giang vì muốn có tiền tiêu xài và lợi dụng lúc đêm khuya vắng vẻ, Trương Văn T đã đột nhập vào nhà ông Đinh Công D và lấy trộm của ông D 6.408 tờ vé số mở thưởng ngày 31/7/2024, đài Sóc Trăng, mệnh giá in 10.000 đồng/tờ, trị giá 55.877.760 đồng; tiền Việt Nam 8.610.000 đồng; 34 tờ vé số trúng thưởng giải các loại, trị giá 4.300.000 đồng. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 68.787.760 đồng nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân thì bị phát hiện, bắt giữ. Do đó đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trần Bảo C3 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015.
[3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ nhận thức để biết rằng hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác là trái pháp luật, nhưng do bản chất lười lao động muốn có tiền tiêu xài mà không phải do công sức của mình làm ra nên đã thực hiện hành vi phạm tội do đó việc truy tố bị cáo của Viện kiểm sát là có căn cứ. Hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác mà còn làm mất an ninh, trật tự tại
địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, gây tâm lý lo sợ cho người dân sống trên địa bàn thành phố.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, gia đình bị cáo tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo nhân thân xấu ngày 22/08/2003 bị Ủy ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang phạt cải tạo tại xã phường 06 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản” và từng bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 48/2004/HS-ST ngày 17/6/2004, nhưng nay vẫn tiếp tục phạm tội. Do đó hành vi của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi mà bị cáo đã gây ra. Ngoài ra còn nhằm mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét. Ngoài ra gia đình bị cáo đã tự nguyện khắc phục số tiền 20.000.000đ cho bên bị hại, nay bị cáo và gia đình bị cáo không có yêu cầu gì đối với số tiền này nên miễn xét.
Ghi nhận việc bị cáo đồng ý trả lại cho bà bà Lưu Hòa X (tiệm mua bán Xe Máy Lâm Trạng) số tiền còn thiếu 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
[5] Về vật chứng vụ án: Các vật chứng là tiền, vé số đã trả lại cho chủ sở hữu nên miễn xét, các vật chứng khác còn lại không liên quan đến tội phạm thì trả lại cho bị cáo hoặc tịch thu tiêu hủy và sung công quỹ nộp ngân sách nhà nước.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Trương Văn T 3 (ba) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tính từ ngày 30/7/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét. Bị cáo và gia đình bị cáo không có yêu cầu gì đối với số tiền đã đưa cho ông D để khắc phục hậu quả nên miễn xét.
Ghi nhận việc bị cáo Trương Văn T đồng ý trả cho bà bà Lưu Hòa X (cửa hàng bán Xe Máy L) số tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
* Trả lại cho bị cáo Trương Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A13 màu đen (đã qua sử dụng).
*Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) đôi dép kẹp, chất liệu da, màu nâu đen (đã qua sử dụng).
- - 01 áo thun ngắn tay, mặt trước và mặt sau có hình chim đại bàng (đã qua sử dụng).
- - 01 quần jean lửng màu đen (đã qua sử dụng).
- - 01 áo khoác jean màu xanh, tay dài (đã qua sử dụng).
- - 02 thanh kim loại tròn, mỗi thanh dài 51 cm, đường kính 01 cm.
- - 01 thanh kim loại tròn, dài 5,2 cm, đường kính 01 cm.
* Tịch thu sung quỹ:
- - 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát số 68S6-0960 nhãn hiệu Honda, loại Wave 110, màu sơn xanh, số máy HC08E- 0207029, Số khung RLHHC 08042Y206988 (đã qua sử dụng).
- - 01 cây kìm cộng lực làm bằng kim loại, nhãn hiệu BERRYLION(R), dài 36 cm, cán được bọc lớp nhựa màu xanh, có hai lưỡi làm bằng kim loại sắt, trên thân kìm có dòng chữ BERRYLION(R), No: 042003014.
- - 01 cây kìm làm bằng kim loại, nhãn hiệu TOP, dài 15 cm, cán được bọc lớp nhựa màu đỏ (đã qua sử dụng)
Các vật chứng trên hiện đang bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/02/2025 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên.
4. Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T3 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
+ Buộc bị cáo Trương Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết theo luật định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a, b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Đăng |
Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 06/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo trộm cắp tài sản, trong quá trình điều tra truy tố không nhận tội, nhưng tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội
