Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂY HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————

Bản án số: 06/2025/DS-ST

Ngày: 26/02/2025

“V/v Tranh chấp

hợp đồng dịch vụ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Tấn Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tuyển và ông Lê Khắc Liêm

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa tỉnh Phú Yên, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 36/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2024, về “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-DS ngày 20/01/2025; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 03/TB-TA ngày 04/02/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn A – Sinh năm: 1983, bà Vương Thị T – Sinh năm: 1988;

Địa chỉ: thôn A, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

Đều có mặt.

Bị đơn: ông Lê Minh T1 – Sinh năm: 1997, Nguyễn Thị Ngọc Á – Sinh năm: 1998;

Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

Vắng mặt, không lý do.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Vương Văn H – Sinh năm: 1992;
  2. Địa chỉ: khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, không lý do.

  3. Huỳnh Thị P – Sinh năm: 1961;
  4. Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

    Vắng mặt, không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên Tòa nguyên đơn ông A, bà T thống nhất trình bày: ngày 15/10/2023 giữa ông T1 và ông A có thỏa thuận để thi công trang trí nội thất gỗ cho nhà ông T1. Sau khi hoàn thành công trình hai bên xác nhận với tổng số tiền là 415.000.000 đồng; quá trình thi công ông T1 đã chuyển cho ông A 268.000.000 đồng còn lại 147.000.000 đồng. Khi thanh lý hợp đồng ông T1, bà Á chỉ trả 77.000.000 đồng còn lại 70.000.000 đồng không trả mà trừ vào số tiền ông Vương Văn H còn nợ ông T1, bà Á. Việc ông T1, bà Á trừ nợ ông H và không chịu trả số tiền còn lại 70.000.000 đồng cho ông A, bà T làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của ông A, bà T vì ông H không liên quan gì đến việc thi công nhà cho ông T1, bà Á. Do đó, ông A, bà T yêu cầu Tòa buộc ông T1, bà Á phải trả số tiền còn nợ sau khi thanh lý hợp đồng cho ông A, bà T là 70.000.000 đồng. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Theo bản tự khai, biên bản hòa giải bị đơn ông T1, bà Á thống nhất trình bày: ông T1, bà Á có thỏa thuận với ông Vương Văn H để làm trang trí nội thất gỗ cho nhà ông T1, bà Á. Theo đó, ông H thỏa thuận sau khi làm xong công trình sẽ cấn trừ số tiền 70.000.000 đồng mà ông H đã mượn trước của ông T1, bà Á. Sau khi thỏa thuận thì ông H thuê lại ông A để thi công công trình. Ông A đã kêu thợ và cung cấp gỗ để làm nhà cho ông T1, bà Á theo như thỏa thuận với ông H. Sau khi hoàn thành công trình giữa ông T1, bà Á với ông H xác nhận khối lượng công việc với tổng số tiền là 415.000.000 đồng. Ông T1, bà Á đã chuyển tạm ứng trước 268.000.000 đồng còn lại 147.000.000 đồng; ông T1, bà Á cần trừ 70.000.000 đồng mà ông H còn nợ và tiếp tục chuyển 77.000.000 đồng cho ông A theo như ý kiến của ông H là tất toán xong hợp đồng. Do đó, việc ông A, bà T khởi kiện yêu cầu ông T1, bà Á trả số tiền 70.000.000 đồng còn lại theo như hợp đồng là không có căn cứ, ông T1, bà Á không chấp nhận vì đã thanh lý xong hợp đồng với ông H và không liên quan gì đến ông A, bà T.

Theo bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H trình bày: Việc thi công công trình đồ gỗ giữa ông A với ông T1, ông H chỉ là người giới thiệu ông A đến thi công. Mọi vấn đề về tiền bạc và quá trình thi công, ông H không hề liên quan. Việc ông H có nợ tiền của mẹ ông T1 bà Huỳnh Thị P là đúng sự thật chứ ông H không liên quan đến khoản tiền mà ông T1 và ông A đang khởi kiện. Mọi vấn đề về giá làm và tiền cọc trước khi làm thì ông T1 và ông A tự thỏa thuận với nhau.

Bị đơn ông T1, bà Á; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H, bà P đã được triệu tập hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt, không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Lê Minh T1, bà Nguyễn Thị Ngọc Á; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vương Văn H, bà Huỳnh Thị P đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, áp dụng các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan..

[2] Về quan hệ pháp luật: Giữa ông A, bà T với ông T1, bà Á có thỏa thuận thỏa thuận miệng về việc thi công trang trí nội thất gỗ cho nhà ông T1, bà Á. Sau khi hoàn thành công việc như đã thỏa thuận; hai bên tất toán và còn số tiền 70.000.000 đồng, ông T1, bà Á không đồng ý thanh toán cho ông A, bà T nên ông A, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa giải quyết. Do đó, quan hệ tranh chấp được xác định là tranh chấp Hợp đồng dịch vụ.

[3] Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và lời trình bày của bị đơn ông T1, bà Á thì ông A, bà T có thực hiện việc thi công công trình trang trí nội thất gỗ cho nhà ông T1, bà Á với tổng số tiền sau khi hoàn thành công việc là 415.000.000 đồng. Sau khi tất toán công trình, ông T1, bà Á chỉ thanh toán cho ông A, bà T 345.000.000 đồng còn 70.000.000 đồng, ông T1, bà Á không thanh toán mà trừ vào số tiền ông Vương Văn H còn nợ.

Việc ông T1, bà Á cho rằng ông H là người nhận thầu công trình, sau đó thuê lại ông A, bà T để thi công và giữa ông T1, bà Á với ông H có thỏa thuận việc cấn trừ số tiền mà ông H còn nợ. Tuy nhiên, qua lời khai của ông H xác nhận, ông H nợ bà Huỳnh Thị P 70.000.000 đồng là trong một giao dịch khác chứ không nợ gì ông T1, bà Á. Việc thi công công trình trang trí nội thất gỗ cho nhà ông T1, bà Á là sự giao kết hợp đồng giữa ông A, bà T với ông T1, bà Á chứ ông H không liên quan.

Quá trình Tòa giải quyết bị đơn ông T1, bà Á; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H, bà P đã được Tòa triệu tập hợp lệ nhiều lần, biết việc ông A, bà T khởi kiện yêu cầu ông T1, bà Á trả số tiền còn nợ 70.000.000 đồng sau khi tất toán hợp đồng nhưng không đến Tòa, cũng không có ý kiến hay cung cấp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa mà cố tình bỏ mặc không phối hợp để Tòa tiến hành đối chất, hòa giải, giải quyết theo quy định.

Mặt khác, việc ông Vương Văn H thừa nhận còn nợ bà Huỳnh Thị P số tiền 70.000.000 đồng và ông T1, bà Á cho rằng ông H còn nợ ông T1, bà Á 70.000.000 đồng là trong một giao dịch dân sự khác, không liên quan đến vụ án này nên không xét mà sẽ được giải quyết trong một vụ án khác khi có yêu cầu.

Do đó, ông A, bà T khởi kiện yêu cầu ông T1, bà Á phải trả số tiền còn nợ theo hợp đồng 70.000.000 đồng là có căn cứ nên chấp nhận toàn bộ.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm (DSST): Bị đơn phải chịu án phí theo quy định tương ứng với số tiền phải trả cho nguyên đơn là 70.000.000 đồng nên ông T1, bà Á phải chịu 3.500.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 147, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; các Điều 513, 515 và Điều 519 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn A và bà Vương Thị T.

Buộc bị đơn ông Lê Minh T1, bà Nguyễn Thị Ngọc Á phải trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn A và bà Vương Thị T số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chưa thi hành xong khoản tiền phải trả, thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Về án phí DSST: Bị đơn ông Lê Minh T1, bà Nguyễn Thị Ngọc Á phải chịu 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng). H1 lại cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn A và bà Vương Thị T 1.750.000 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000864 ngày 10/5/2024 của Chi cục Thi hành huyện án dân sự huyện T, tỉnh Phú Yên.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án sơ thẩm. Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND huyện Tây Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Tây Hoà;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Tấn Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/DS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 06/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông A yêu cầu ông T1 trả số tiền còn nợ theo hợp đồng đã thực hiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger