|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số:06/2025/HS-ST Ngày 26/02/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Thanh Tuấn;
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Văn Quý;
Ông Lê Đình Luận.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng – Thư ký TAND huyện Gio Linh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên toà: Bà Đặng Thúy Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, Toà án nhân dân huyện Gio Linh mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Bùi Ngọc H (tên gọi khác: Bùi Hải Q), sinh ngày 05/5/1988; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: khu phố F, thị trấn C, huyện G, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: đánh cá; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Hải Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị H1; vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- - Ngày 06/5/2014, bị TAND huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2014/HSST. Chấp hành xong ngày 06/7/2015, đã được xoá án tích;
- - Ngày 06/6/2017, bị TAND huyện Gio Linh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thi hành tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Chấp hành xong ngày 10/8/2017, đã được xoá án tích;
- - Ngày 08/9/2021, bị Công an huyện G ban hành Quyết định xử phạt hành chính số 49/QĐ-XPHC về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền 1.000.000 đồng. Chấp hành xong ngày 19/10/2021.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q từ ngày 05/12/2024 cho đến nay; có mặt.
* Người bị hại:
- - Ông Hoàng T, sinh năm: 1959; trú tại: khu phố E, thị trấn C, huyện G, tỉnh Quảng Trịng Trị, vắng mặt.
- - Bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1964; trú tại: khu phố E, thị trấn C, huyện G, tỉnh Quảng Trịng Trị; Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị P: ông Hoàng T, sinh năm: 1959; trú tại: khu phố E, thị trấn C, huyện G, tỉnh Quảng Trịng Trị (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 24/12/2024), vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:
Khoảng 10 giờ 00 ngày 20/11/2024, Bùi Ngọc H đi bộ từ nhà mình đến quán tạp hoá “Tính Phụng” của ông Hoàng T tại khu phố G, thị trấn C, huyện G để đổi tờ tiền 500.000 đồng thành 03 tờ tiền 100.000 đồng và 01 tờ tiền 200.000 đồng thì ông T đồng ý.
Khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày, H tiếp tục đến quán để hỏi ông T có biết ai bán số đề để mua. Đến nơi, H thấy ông T và vợ là bà Nguyễn Thị P đang ngủ. H đi vào bên trong quán, phát hiện tủ gỗ không khóa, tại vị trí ngăn giữa tủ có 01 ví da màu nâu nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. H dùng tay phải cầm ví, tay trái lấy số tiền bên trong bỏ vào túi quần sau bên trái rồi để ví lại tại vị trí ban đầu, đi ra khỏi quán. Nghe tiếng động, bà P thức dậy thấy H đi ra từ quán của mình nên đi theo hỏi: “Mi lấy chi đó?”, H trả lời: “Không lấy chi hết” rồi đi về nhà. Trên đường về lại nhà mình, H rút tờ tiền 500.000 đồng trong số tiền vừa trộm được bỏ vào túi quần phía sau bên phải, sau đó lấy lại tờ tiền trên bỏ vào ví của mình.
Sau khi H về, bà P nghi ngờ, kiểm tra phát hiện bị mất tiền nên cùng ông T đến nhà H đòi lại thì H lấy toàn bộ tiền trong túi quần bên trái đưa cho ông T. Khi về quán, ông T phát hiện không có tờ tiền 500.000 đồng nên quay lại hỏi: “Răng không có tờ năm trăm?”, lúc này H mở ví của mình lấy tờ 500.000 đồng đưa cho ông T. Về quán, kiểm tra số tiền mà H đưa lại chỉ có 6.100.000 đồng thiếu 4.000.000 đồng nên ông T quay lại hỏi: “Mi trả lại tiền cho tau còn thiếu” nhưng H nói: “Không, lấy từng đó rồi đó” (ý H chỉ lấy số tiền vừa trả lại cho ông T) thì ông T đi về. Cùng ngày 20/11/2024, ông T đến Công an thị trấn C làm đơn tố giác H lấy trộm 10.100.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định: Tối ngày 19/11/2024, sau khi kết thúc buôn bán hàng hoá trong ngày, các ông bà T, P kiểm tra bán được tổng số tiền 10.100.000 đồng, bỏ vào ví nâu rồi cất ở tủ quán. Khoảng 12 giờ 00 ngày 20/11/2024, bà P lấy 4.000.000 đồng cho chị Đỗ Thị T1 (sinh năm 1983, trú tại khu phố G, thị trấn C, huyện G) mượn nên ông T không biết. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét số tiền 4.000.000 đồng.
Bản cáo trạng số 08/CT-VKS-GL ngày 20/01/2025 của VKSND huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Bùi Ngọc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
-
* Về trách nhiệm hình sự:
- - Tuyên bố: bị cáo Bùi Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Ngọc H từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giam 05/12/2024.
- * Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận đủ số tiền do bị cáo chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì thêm .
- * Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Quảng Trị, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà hôm nay, người bị hại vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 292 BLTTHS Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.
[2] Phân tích chứng cứ buộc tội và gỡ tội đối với bị cáo:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với sơ đồ, biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc và bản ảnh xem xét hiện trường; lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo Bùi Ngọc H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 14 giờ 20 phút ngày 20/11/2024 lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của người bị hại, bị cáo đã có hành vi lén lút vào nhà chiếm đoạt số tiền 6.100.000 đồng của ông Hoàng T và bà Nguyễn Thị P tại khu phố G, thị trấn C, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Như vậy, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh truy tố bị cáo với tội danh và điều luật viện dẫn trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo:
Xét tính chất vụ án, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, mà còn gây mất trật tự, trị an trên địa bàn, làm cho quần chúng nhân dân không yên tâm trong quản lý tài sản. Bị cáo Bùi Ngọc H là người có nhân thân xấu đã hai lần bị Tòa án nhân dân huyện Gio Linh xét xử và kết án về “Trộm cắp tài sản” vào các năm 2024 và 2017 đã được xóa án tích, bị Công an huyện G xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” vào năm 2021 nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu chí, rèn luyện bản thân trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà vẫn tiếp tục phạm tội, điều đó thể hiện sự bất chấp coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đủ tác dụng giáo dục trực tiếp đối với bị cáo; đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, bản thân bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội, bố của bị cáo được Nhà nước tặng thưởng “Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì”, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt:
Căn cứ vào tình chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy rằng cần chấp nhận ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự, đưa ra mức hình phạt đối với bị cáo trong khoảng từ 06 tháng đến 09 tháng tù là có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục trực tiếp đối với bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS thì thấy rằng, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên không cần phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận lại đủ số tiền bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
Đối với số tiền 4.000.000 đồng trong số tiền 10.100.000 đồng ông T làm đơn tố cáo, quá trình điều tra đã xác định bà P lấy 4.000.000 đồng cho chị Đỗ Thị T1 mượn mà ông T không biết. Ông T, bà P và chị T1 đã xác nhận đối số tiền này bà P đã cho chị T1 mượn và xác định bị cáo chỉ chiếm đoạt số tiền 6.100.000đ. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét số tiền 4.000.000 đồng là có căn cứ nên HĐXX không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ 6.100.000 đồng, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản này cho các chủ sở hữu ông Hoàng T và bà Nguyễn Thị P là có căn cứ nên HĐXX không xem xét.
[8] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn căn cứ Điều 329 BLTTHS, bị cáo đang bị tạm giam và bị xử phạt tù, nên Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam mới đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc H (tên gọi khác: Bùi Hải Q) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc H (tên gọi khác: Bùi Hải Q) 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 05/12/2024.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: buộc bị cáo Bùi Ngọc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/02/2025); người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thanh Tuấn |
Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 06/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Ngọc H trộm cắp tài sản
