Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HS-ST

Ngày 25-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Thò Bá Tểnh.

Ông Cụt Xuân Ninh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo- Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Võ Trọng Thắng- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lữ Văn H, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10 tháng 6 năm 1995 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Bản H, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Khơ Mú; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lữ Văn D và con bà Moong Thị H1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18 tháng 11 năm 2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa
  2. Họ và tên: Ngân Văn T, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01 tháng 7 năm 1994 tại tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Bản H, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Khơ Mú; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngân Văn T và con bà Lữ Thị T1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18 tháng 11 năm 2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa

- Người bào chữa cho các bị cáo Lữ Văn H, Ngân Văn T: Ông Lê Công T2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Có mặt

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Ngân Văn C, sinh năm 1996, trú tại bản Huồi Cọ, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt

- Người chứng kiến: Anh Đồng Văn G. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 18/11/2024, Lữ Văn H và Ngân Văn T đang đi chơi tại bản Na Cáng, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An thì lên cơn nghiện nên rủ nhau góp tiền đi mua ma túy sử dụng. Do T không có tiền nên H nói: “Em có hai trăm nghìn đây, em cho anh mượn một trăm lúc nào có thì trả”. Nghe vậy, T3 nói: “Được để anh chở em đi mua”. Sau đó Ngân Văn T điều khiển xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS biển kiểm soát 37D1- 008.24 chở Lữ Văn H đi đến khu vực đồi thuộc bản N, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An. Đến nơi, Lữ Văn H xuống xe đi bộ một mình dọc theo khe suối để tìm mua ma túy, còn T ngồi trên xe chờ. H đi được khoảng 30 mét thì gặp và mua của một người nam thanh niên không quen biết 01 gói ni lông màu trắng bên trong chứa các viên nén màu hồng với số tiền 200.000đ. Mua ma túy xong, Lữ Văn H quay lại và nói với Ngân Văn T: “Em mua được ma túy rồi, ta đi về thôi”. Ngân Văn T điều khiển xe máy chở Lữ Văn H đi về.

Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi Ngân Văn T chở Lữ Văn H đang di chuyển tại khu vực bản N, xã Y, huyện T thì bị tổ công tác Công an huyện T, tỉnh Nghệ An phát hiện và bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã thu giữ trong lòng bàn tay phải của Lữ Văn H 01 gói ni lông màu trắng bên trong có chứa các viên nén màu hồng. Ngân Văn T và Lữ Văn H khai nhận số viên nén màu hồng là Hồng phiến do H và T cùng góp tiền mua để sử dụng. Bên cạnh đó còn tạm giữ đối với chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu sơn đỏ, đen, biển kiểm soát 37D1-008.24. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giám định số: 953/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 24/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Lữ Văn H và Ngân Văn T gửi tới giám định là ma túy Methamphetamine, có khối lượng là 0,38g (không phẩy ba mươi tám gam).

Bản cáo trạng số 05/CT-VKS-TD ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố Lữ Văn H, Ngân Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lữ Văn H mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Ngân Văn T mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho các bị cáo, xử lý vật chứng: Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án.

Người bào chữa cho bị cáo Lữ Văn H, Ngân Văn T không có ý kiến tranh luận với bản luận tội và đề xuất Hội đồng xét xử xem xét đến việc nhận thức pháp luật của các bị cáo đang còn hạn chế, cư trú ở vùng sâu, vùng xa nên lượng hình ở mức thấp nhất như lời đề nghị của Kiểm sát viên, miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã nhận xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS biển kiểm soát 37D1- 008.24 nên không có yêu cầu gì thêm.

Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Lữ Văn H, Ngân Văn T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai của chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 18/11/2024, tại bản N, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An, Lữ Văn H và Ngân Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,38 gam ma túy Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Hành vi mà các bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đối với các bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm nghiêm trọng xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Đây là vụ án có nhiều người tham gia thực hiện tội phạm với tính chất đồng phạm giản đơn nên cần phân hóa vai trò của từng người để áp dụng hình phạt sát đúng.

Các bị cáo Lữ Văn H, Ngân Văn T cùng nhau bàn bạc đi mua ma túy về sử dụng nên cần lên mức hình phạt ngang nhau là thỏa đáng.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thái độ khai báo của các bị cáo là thành khẩn, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo và lượng hình ở mức thấp nhất như lời đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa là tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

[6] Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của các bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Lữ Văn H. Hiện cơ quan điều tra chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ của người này nên chưa có căn cứ để xử lý.

Đối với anh Ngân Văn C người đã cho Ngân Văn T mượn xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 37D1.008.24. Quá trình điều tra xác định việc Ngân Văn T sử dụng chiếc xe để chở Lữ Văn H đi mua ma túy anh C không biết nên hành vi của anh C không phạm tội.

[7] Xử lý vật chứng: 0,38 Heroine (đã lấy 0,2 gam để đi giám định) là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;

- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 37D1.008.24, trong quá trình điều tra xác định chiếc xe thuộc quyền sở hữu của anh Ngân Văn C. Việc Ngân Văn T sử dụng chiếc xe chở Lữ Văn H đi mua ma túy anh C không biết nên ngày 31/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại chiếc xe cho anh Ngân Văn C theo quy định pháp luật. Anh Ngân Văn C không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Lữ Văn H, Ngân Văn T là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo. Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. [1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lữ Văn H 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/11/2024.
  2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngân Văn T 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/11/2024.
  3. [2] Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án;

    (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 14.01.2025 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An);

  4. [3] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lữ Văn H, Ngân Văn T
  5. [4] Quyền kháng cáo: Các bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 25/02/2025.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh NA;
  • - VKSND huyện Tương Dương;
  • - Công an huyện Tương Dương;
  • - UBND xã Hữu Khuông;
  • - Người bào chữa;
  • - Các bị cáo, Trại tạm giam;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS huyện Tương Dương;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Ái

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi ..... giờ ....... phút, ngày 25 tháng 02 năm 2025.

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Á

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thò Bá T4

Ông Cụt Xuân N.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sở thẩm thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 đối với:

  1. Bị cáo Lữ Văn H, sinh ngày 10 tháng 6 năm 1995, tại huyện T, tỉnh Nghệ An.
  2. Bị cáo Ngân Văn T, sinh ngày 01 tháng 7 năm 1994, tại huyện T, tỉnh Nghệ An.

Căn cứ vào Điều 299, 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

  1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, không thuộc trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung;
  2. Kết quả biểu quyết: 3/3

  3. Các chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập đã bảo đảm tính pháp lý, đầy đủ và đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng khác không cung cấp thêm chứng cứ mới và có lời khai trung thực, không gian dối.
  4. Kết quả biểu quyết: 3/3

  5. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  6. Kết quả biểu quyết: 3/3

  7. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.
  8. Kết quả biểu quyết: 3/3

  9. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và bị cáo; Hội đồng xét xử có quyết định như sau:
  10. - Điều luật áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lữ Văn H, Ngân Văn T.

    Kết quả biểu quyết: 3/3

    - Xử phạt bị cáo Lữ Văn H 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/11/2024.

    - Xử phạt bị cáo Ngân Văn T 01 (Một) tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/11/2024.

    Kết quả biểu quyết: 3/3

  11. Các vấn đề khác :
  12. - Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 14.01.2025 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An);

    Kết quả biểu quyết: 3/3

    - Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lữ Văn H, Ngân Văn T.

    Kết quả biểu quyết: 3/3

    - Quyền kháng cáo: Các bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 25/02/2025.

    Kết quả biểu quyết: 3/3

    - Tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Áp dụng Điều 109,113,119 và 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam đối với các bị cáo Lữ Văn H, Ngân Văn T để đảm bảo cho việc thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Kết quả biểu quyết: 3/3

  13. Kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm: Không.
  14. Kết quả biểu quyết: 3/3

Nghị án kết thúc vào hồi......giờ......phút, ngày 25 tháng 02 năm 2024.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger