Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ NINH

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HS-ST

Ngày 25 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Việt Giang.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Tống Thị Hồng Vân.
  • 2. Ông Phạm Hoàng Tuấn.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2025/HSST ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thành Đ, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 07 tháng 05 năm 1973 tại: tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Thẻ CCCD số : [...] cấp ngày 07 tháng 09 năm 2022; Nơi cấp: Cục C về TTXH – Bộ C1. Nơi thường trú: Khu G, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở hiện tại: Không rõ ràng. Con ông: Nguyễn Văn Đ1, Sinh năm: Đã chết; Con bà: Lê Thị Ý, Sinh năm: Đã chết; Anh chị em ruột: Có 6 anh chị em, bị can là thứ 4; Vợ: Nguyễn Thị H, Sinh năm: 1978; Nơi thường trú: Khu G, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Con: Có 2 con lớn sinh 2000, nhỏ sinh 2005. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2020, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong án phạt tù ngày 12/05/2021. Chấp hành xong án phí hình sự 200.000đ ngày 07/08/2020.

- Năm 2021, bị UBND xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, chấp hành xong ngày 25/03/2022.

- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh P.

2. Họ và tên: Đỗ Đức T, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 15 tháng 07 năm 1991 tại: tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Thẻ CCCD số : [...] cấp ngày 16 tháng 09 năm 2021; Nơi cấp: Cục C về TTXH – Bộ C1; Nơi thường trú: Khu R, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở hiện tại: Khu R, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Con ông: Đỗ Việt T1, Sinh năm 1959. Con bà: Đặng Thị H1, Sinh năm: 1969. Nơi thường trú: Khu R, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Anh chị em ruột: Có 3 anh chị em, bị can là thứ 2; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không.

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/10/2024 đến ngày 30/10/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ kể từ ngày 21/01/2025 cho đến khi xét xử, giải quyết xong vụ án.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1978. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Khu G, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 00 phút ngày 21/10/2024 tại khu G xã B, huyện P, Tổ công tác Công an huyện P phát hiện Nguyễn Thành Đ, sinh năm: 1973, ĐKTT: Khu G, huyện P, tỉnh Phú Thọ đứng cạnh xe mô tô nhãn hiệu Honda Weve, màu trắng BKS19S1-199.51 dừng đỗ ở ven đường đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Đ khai số ma túy trên mua của Đỗ Đức T, sinh năm 1991, nơi ĐKTT tại khu R, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

Vật chứng thu giữ của Đ: 01 (một) túi nilon màu trắng, miệng túi có khuy bấm bịt kín bên trong có 02 (hai) gói giấy trong đó một gói có đặc điểm hai mặt màu bạc, bên trong có một gói giấy mặt ngoài màu xanh có nhiều chữ và số, mặt trong màu trắng bên trong chứa chất rắn dạng bột cục màu trắng, gói giấy còn lại có đặc điểm là gói giấy mặt ngoài màu xanh, mặt trong màu trắng bên trong chứa chất rắn dạng bột cục màu trắng (là ma túy Heroine); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12E màu đen, số IMEI1: 867178043885298, số IMEI2: 867178043885280 đã qua sử dụng bên trong gắn sim số 0382469376; 01 (một) bơm kim tiêm loại 1ml/cc, chưa qua sử dụng và 01 chiếc xe mô tô biển số 19S1-199.51, bên trong cốp xe không có đồ vật, tài sản gì.

Cơ quan CSĐT Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ: Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thành Đ kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Đức T phát hiện thu giữ: 01 (một) túi nilon màu trắng miệng túi có khuy bấm bịt kín, bên trong có chứa 03 gói giấy đều có đặc điểm, mặt ngoài có in các họa tiết hoa văn nhiều màu sắc, mở ra mặt trong màu trắng, có chứa chất bột cục màu trắng (là ma túy Heroine); 01 (chiếc) ví màu nâu bên trong có 03 (ba) tờ tiền đều có mệnh giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng); 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, số IMEI1: 862928044271913, IMEI2: 862928044271905, điện thoại lắp sim số: 0363.176.xxx, đã qua sử dụng; 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, số IMEI1: 864284035810055, IMEI2: 864284035810048, lắp sim số: 0766232434, đã qua sử dụng, mặt lưng có nhiều vết trầy sước.

Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã trưng cầu Phòng K, Công an tỉnh P giám định số vật chứng thu giữ của Nguyễn Thành Đ và Đỗ Đức T.

Tại Bản kết luận giám định số 1474/KL-KTHS, ngày 26/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận:

  • - Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 02 gói giấy niêm phong trong bì giấy ghi vật chứng thu giữ trong quá trình kiểm tra Nguyễn Thành Đ, gửi đến giám định có tổng khối lượng là 0,262 gam; là ma túy; loại Heroine (H).
  • - Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 03 gói giấy niêm phong trong bì giấy ghi vật chứng thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Đỗ Đức T, gửi đến giám định có tổng khối lượng là 0,466 gam; là ma túy; loại Heroine (H).
  • - Heroine (H3) có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Quá trình điều tra T và Đ khai nhận: Sáng ngày 21/10/2024, Đỗ Đức T, T đi chơi tại thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình đi chơi, T gặp một người nam giới không quen biết làm nghề xe ôm, T đặt vấn đề hỏi mua 1.000.000đ (một triệu đồng) tiền ma túy (H) thì người này đồng ý. Sau khi mua được ma túy. T đem số ma túy mua được về nhà và trích một phần ra sử dụng cho bản thân. Phần còn lại đến khoảng hơn 13 giờ cùng ngày, Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1973 ĐKTT tại khu G, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ là người quen biết với T sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12E màu đen lắp sim số 0382469376 gọi đến số thuê bao 0766232434 được gắn trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 của Đỗ Đức T hỏi mua 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) tiền ma túy (H2), T đồng ý. Đến 13 giờ 21 phút cùng ngày, Đỗ Đức T sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 lắp sim số 0363176487 gọi điện đến số thuê bao 0382469376 của Đ hẹn đến nhà T để giao dịch ma túy. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số: 19S1-199.51 đến nhà T.

Tại cổng nhà T, T bán cho Đ 01 (một) túi nilon màu trắng miệng túi có khuy bấm bịt kín, bên trong có chứa 02 gói giấy trong đó: Một gói giấy có đặc điểm mặt ngoài màu xanh, mở ra mặt trong màu trắng, có chứa chất bột cục màu trắng (Heroin) và một gói giấy hai mặt màu bạc, mở ra bên trong có một gói giấy có đặc điểm mặt ngoài màu xanh có in chữ, số mở ra mặt trong màu trắng, có chứa chất bột cục màu trắng (Heroin). Nhận được ma túy, Đ trả cho T 600.000 (sáu trăm nghìn đồng) tiền mua số ma túy trên. Sau đó, Đ đem ma túy về nhà và mở gói giấy mặt ngoài màu xanh chứa ma túy (Heroine) vừa mua của T trích lấy một phần sử dụng cho bản thân. Sử dụng xong, Đ cất số ma túy còn lại trong người và điều khiển xe mô tô trên đi chơi. Khi đến đoạn đường dân sinh thuộc khu G, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ, Đ dừng xe lấy chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A12E lắp sim số 0382469376 trên gọi cho bạn thì bị lực lượng Công an huyện P, kiểm tra phát hiện.

Nguồn gốc số ma túy thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Đức T và thu giữ của Nguyễn Thành Đ nêu trên đều là do T mua của một người nam giới không quen biết tại thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (cùng một nguồn).

Tại cơ quan điều tra Công an Huyện P, Đỗ Đức T và Nguyễn Thành Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của Đỗ Đức T và Nguyễn Thành Đ phù hợp với vật chứng thu giữ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKSPN ngày 21/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đỗ Đức T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ từ 17 đến 21 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/10/2024.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Đỗ Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Xử phạt bị cáo Đỗ Đức T từ 27 đến 33 tháng tù, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/10/2024 đến ngày 30/10/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  • Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ và Đỗ Đức T.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì ghi vật chứng thu giữ trong quá trình kiểm tra Nguyễn Thành Đ, trả lại: 0,180 gam chất bột, cục màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong túi niêm phong (bì số 2137048); 01 (một) bì ghi vật chứng thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Đỗ Đức T, trả lại: 0,348 gam chất bột, cục màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong (bì số 2137049); 01 (một) túi nilon bên trong có 01 (một) bơm kim tiêm loại 1ml/cc, chưa qua sử dụng; 01 (một) chiếc ví màu nâu; sim số 0382469376, sim số: 0766232434, sim số 0363176487.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12E màu đen, số seri:616195c8, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, số IMEI1: 862928044271913, IMEI2: 862928044271905, đã qua sử dụng; 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, số IMEI1: 864284035810055, IMEI2: 864284035810048, đã qua sử dụng, mặt lưng có nhiều vết trầy sước.

Trả lại cho chị Nguyễn Thị H: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển số 19S1-199.51, đã qua sử dụng; số khung: RLHHC1251FY125530, số máy: HC12E-7125479, bên trong cốp xe không có đồ vật tài sản gì.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng).

Vật chứng đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P bàn giao cho cơ quan Thi hành án dân sự huyện P theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/01/2025.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thành Đ và Đỗ Đức T mỗi người phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo Đ và T thừa nhận hành vi đúng như cáo trạng truy tố, các bị cáo không tranh luận gì. Các bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử, xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Về những chứng cứ xác định có tội hoặc không có tội:

Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận: Hồi 14 giờ 00 phút, ngày 21/10/2024 tại khu G xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Thành Đ đã có hành vi tàng trữ 0,262 gam ma túy, loại Heroin (H), với mục đích để sử dụng; Đỗ Đức T đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thành Đ 01 lần với giá 600.000đ (không xác định trọng lượng) và tàng trữ 0,466 gam ma túy, loại Heroin (H) với mục đích để bán vào ngày 21/10/2024 tại nhà ở của T tại khu R xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thành Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Hành vi của Đỗ Đức T đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Đ và T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy cần xử lý các bị cáo thật nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm về ma túy.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thành Đ và Đỗ Đức T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thành Đ, Đỗ Đức T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo Đ và T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi xem xét nhân thân, đối chiếu với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Đỗ Đức T là người có nhân thân tốt, được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, vì vậy cần xử phạt bị cáo T một hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

Bị cáo Nguyễn Thành Đ là người có nhân thân xấu, tại bản án số 06/2020/HS-ST ngày 27/4/2020, Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ án; Năm 2021, bị UBND xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Hình thức cai nghiện tại xã, phường, thị trấn, chấp hành xong ngày 25/03/2022. Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lần này lại tiếp tục phạm tội, vì vậy lần phạm tội này cần xử phạt bị cáo Đ một hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội để bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Qua xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P xét thấy bị cáo Nguyễn Thành Đ, Đỗ Đức T không có việc làm, không có tài sản riêng và áp dụng hình phạt tù nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với: 01 (một) bì ghi vật chứng thu giữ trong quá trình kiểm tra Nguyễn Thành Đ, trả lại: 0,180 gam chất bột, cục màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong túi niêm phong (bì số 2137048); 01 (một) bì ghi vật chứng thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Đỗ Đức T, trả lại: 0,348 gam chất bột, cục màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong (bì số 2137049). Đây là vật chứng của vụ án thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12E màu đen, số seri:616195c8, đã qua sử dụng bên trong gắn sim số 0382469376 thu giữ của Nguyễn Thành Đ. Đây là điện thoại và sim sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12E màu đen, số seri:616195c8, đã qua sử dụng và tịch thu tiêu hủy sim số 0382469376.
  • Đối với: 01 (một) túi nilon bên trong có 01 (một) bơm kim tiêm loại 1ml/cc, chưa qua sử dụng; Đây là công cụ để bị cáo sử dụng ma túy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển số 19S1-199.51, đã qua sử dụng; số khung: RLHHC1251FY125530, số máy: HC12E-7125479, bên trong cốp xe không có đồ vật tài sản gì. Đây là tài sản riêng của chị Nguyễn Thị H (vợ Đ). Chị H không biết việc Đ sử dụng chiếc xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho chị Nguyễn Thị H là phù hợp.
  • Đối với: 01 (một) chiếc ví màu nâu. Tại phiên tòa T không đề nghị trả lại nhưng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với: số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • Đối với: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, số IMEI1: 862928044271913, IMEI2: 862928044271905, điện thoại lắp sim số: 0363.176.xxx, đã qua sử dụng; 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, số IMEI1: 864284035810055, IMEI2: 864284035810048, lắp sim số: 0766232434, đã qua sử dụng, mặt lưng có nhiều vết trầy sước. 02 điện thoại và 02 sim số T dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy sim số: 0766232434, sim số 0363176487 và tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, số IMEI1: 862928044271913, IMEI2: 862928044271905, đã qua sử dụng; 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, số IMEI1: 864284035810055, IMEI2: 864284035810048, đã qua sử dụng, mặt lưng có nhiều vết trầy sước.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thành Đ và Đỗ Đức T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thành Đ và Đỗ Đức T được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/10/2024.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Đỗ Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Đức T 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/10/2024 đến ngày 30/10/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ và Đỗ Đức T.

[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì ghi vật chứng thu giữ trong quá trình kiểm tra Nguyễn Thành Đ, trả lại: 0,180 gam chất bột, cục màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong túi niêm phong (bì số 2137048); 01 (một) bì ghi vật chứng thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Đỗ Đức T, trả lại: 0,348 gam chất bột, cục màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong (bì số 2137049); 01 (một) túi nilon bên trong có 01 (một) bơm kim tiêm loại 1ml/cc, chưa qua sử dụng; 01 (một) chiếc ví màu nâu; sim số 0382469376, sim số: 0766232434, sim số 0363176487.

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12E màu đen, số seri:616195c8, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, số IMEI1: 862928044271913, IMEI2: 862928044271905, đã qua sử dụng; 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, số IMEI1: 864284035810055, IMEI2: 864284035810048, đã qua sử dụng, mặt lưng có nhiều vết trầy sước.

Trả lại cho chị Nguyễn Thị H: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển số 19S1-199.51, đã qua sử dụng; số khung: RLHHC1251FY125530, số máy: HC12E-7125479, bên trong cốp xe không có đồ vật tài sản gì.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng).

Vật chứng đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P bàn giao cho cơ quan Thi hành án dân sự huyện P theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/01/2025.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thành Đ và Đỗ Đức T mỗi người phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.

Nơi nhận:

  • VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • VKSND huyện Phù Ninh;
  • Công an huyện Phù Ninh;
  • Cơ quan THAHS CA huyện Phù Ninh;
  • Cơ quan THADS huyện Phù Ninh;
  • Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • UBND xã Bình Phú;
  • Bị cáo;
  • Những người tham gia tố tụng;
  • Lưu HS+VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đinh Việt Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger