Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24-02-2025

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Mai Trinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Thiện Bửu;
  2. Ông Bùi Minh Châu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Sóc – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 265/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số:14/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị L, sinh ngày 10/02/1987 (có đơn vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: ấp V, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Anh Phan Văn T, sinh năm 1990 (vắng mặt không lý do).

Địa chỉ cư trú: ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 21/10/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm chị Huỳnh Thị L trình bày:

- Về hôn nhân chị và anh Phan Văn T có tìm hiểu trước khi cưới nhau, vào năm 2010 đăng ký hôn tại UBND xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre. Trong quá trình chung sống phát sinh có nhiều mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, nên chị và anh T ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Hiện chị đang sống tại xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre, còn anh T về quê tại ấp B, xã B, thành phố H. Từ khi ly thân đến nay anh T chỉ liên hệ hỏi thăm con, ngoài ra giữa chị và anh T không có cơ hội hàn gắn quan hệ hôn nhân. Nay chị L yêu cầu ly hôn với anh T.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Phan Thị Quỳnh N, sinh ngày 02/02/2013. Chị L yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng. Hiện cháu N đang sống cùng chị và nguyện vọng cháu cũng muốn sống với chị. Hiện tại chị làm công nhân tại công ty trên địa bàn tỉnh Bến Tre, thu nhập bình quân 7.000.000đồng/tháng, nên đủ khả năng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Phan Văn T: Đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt và cũng không gửi văn bản ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị L.

Ý kiến của Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và phát biểu ý kiến về nội dung giải quyết vụ án về hôn nhân: căn cứ Điều 91, 92 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 9, 19, 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thị L với anh Phan Văn T.

- Về con chung: chị Huỳnh Thị L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Phan Thị Quỳnh N, sinh ngày 02/02/2013, anh Phan Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị L không yêu cầu.

- Về tài sản chung: tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cấp giải quyết.

- Về nợ chung: không có, nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ kiện Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và bị đơn anh Phan Văn T có địa chỉ cư trú: ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, bị đơn anh Phan Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không tham gia phiên toà. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với chị Huỳnh Thị L có đơn xin vắng mặt tham gia phiên tòa xét xử. Vì vậy căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Huỳnh Thị L là phù hợp theo quy định pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị L yêu cầu ly hôn với anh Phan Văn T. Hội đồng xét xử xét thấy theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo thì giữa chị L và anh T là hôn nhân hợp pháp, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre. Từ khi Tòa án thụ lý đến ngày mở phiên tòa xét xử, mặc dù đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ nhưng anh T không tham gia tố tụng tại Tòa, cũng như không có bất kì tài liệu, chứng cứ thể hiện ý kiến của mình và phản đối yêu cầu của chị L. Điều này thể hiện anh T không có thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng đối với chị L. Hơn nữa chị L và anh T ly thân từ năm 2018 đến nay không có cơ hội đoàn tụ. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị L và anh T không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị L là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về nuôi con chung: Chị Huỳnh Thị L và anh Phan Văn T có 01 con chung tên Phan Thị Quỳnh N, sinh ngày 02/02/2013. Chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con. Riêng anh T không trình bày ý kiến về con chung và hiện tại chị L đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung, cháu Phan Thị Quỳnh N có nguyện vọng được sống với của mẹ. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi con của chị L là hoàn toàn có căn cứ, anh T không phải cấp dưỡng cho con do chị L không yêu cầu. Chị L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

[2.3] Về chia tài sản chung: Chị Huỳnh Thị L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.4] Về nợ chung: Chị Huỳnh Thị L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3] Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử xét chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc các đương sự phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định, theo đó:

[4.1] Chị Huỳnh Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai số 0012103 ngày 22/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, chị L đã nộp xong.

[4.2] Anh Phan Văn T không phải chịu án phí dân sự sở thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị L. Cho chị Huỳnh Thị L ly hôn với anh Phan Văn T.
  2. Về nuôi con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Thị L. Chị Huỳnh Thị L được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung tên Phan Thị Quỳnh N, sinh ngày 02/02/2013 (hiện cháu N đang sống với chị L và có nguyện vọng sống với chị L). Anh Phan Văn T không phải cấp dưỡng cho con, do chị Huỳnh Thị L không yêu cầu. Chị Huỳnh Thị L cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Phan Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
  3. Về chia tài sản chung: Chị Huỳnh Thị L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về nợ chung: Chị Huỳnh Thị L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai số 0012103 ngày 22/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, chị L đã nộp xong.

Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/02/2025). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Tp. Hồng Ngự;
  • - UBND xã Vang Quới Đông, H. Bình Đại,
  • tỉnh Bến Tre;
  • - Lưu VT, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Mai Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger