|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HOÁ THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày: 21 – 02 – 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HOÁ, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Phương Nam và bà Trần Thị Bích Thuỷ.
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Hồng Linh, Thư ký Toà án nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Thống – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Đặng Minh T, sinh ngày 03/6/1996 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: 2 K, phường T, quận P, thành phố H; CCCD số: [...]; cấp ngày 11 tháng 8 năm 2021; Nơi cấp: Cục C về TTXH; nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn T1, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị L (đã chết); Vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/9/2024 đến ngày 29/10/2024; được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” từ ngày 29/10/2024 cho đến ngày 19/12/2024; được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 19/12/2024 cho đến nay; có mặt.
2. Hoàng Thành Đ, sinh ngày 20/4/1996 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: 4 Kiệt D Y, phường T, quận P, thành phố H; CCCD số: [...]; cấp ngày 02 tháng 7 năm 2021; Nơi cấp: Cục C về TTXH; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng T2, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị T3 (đã chết); Vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/9/2024 đến ngày 29/10/2024; được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” từ ngày 29/10/2024; ngày 10/02/2025 bị khởi tố và ngày 21/02/2025 bị bắt tạm giam trong vụ án khác; có mặt.
- Bị hại: Anh Lê Văn R, sinh năm 1995; trú tại: Tổ dân phố L, phường D, quận T, thành phố H; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đặng Minh H, sinh năm 1994; trú tại: 2 K, phường T, quận P, thành phố H; vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Thế P, sinh năm 1993; trú tại: 1 T, phường A, quận T, thành phố H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ ngày 03/6/2024, Nguyễn Thế P, Lê Văn R và 3 người bạn khác đang ăn uống ở gần đài phun nước công viên L, phường V, thành phố H thì Pháp nhắn tin hẹn Đặng Minh T đến để giải quyết mâu thuẫn chuyện tình cảm trước đó giữa Pháp, T và Trần Phan Khánh P1 nên T đi xe mô tô biển kiểm soát 75K8-8876 (xe của Đặng Minh H, là anh của T) đem 02 cây dao để trong cốp xe, chở Hoàng Thành Đ đến công viên L. Tại đây, T cầm 01 cây dao, đưa cho Đ 01 cây dao và nói “Tui có hẹn mấy thằng trong nó để nói chuyện”, Đ hiểu ý T nên cầm dao đi theo T vào công viên tìm P. Thấy T và Đ cầm dao đến thì cả nhóm bỏ chạy chỉ còn lại R. T nói: “Bây khích tau à?”; R nói: “Tau không liên quan chi hết”. T liền dùng dao chém vào phía bên trái người Rôn, R đưa tay đỡ thì T rút dao lại và chém tiếp thì trúng vào cẳng tay trái của R. Lúc đó, Đ cầm dao đứng gần T để hỗ trợ. T tiếp tục chém tiếp 01 nhát trúng vào vùng lưng bên phải của R. Rôn hoảng sợ nên nhảy xuống sông H. Lúc đó, có một nhóm người chạy đến nên T và Đ bỏ đi. Sau đó, anh R tự bơi vào bờ và được nhóm bạn đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện T4.
Ngày 05/6/2024, anh Lê Văn R viết đơn tố cáo. Quá trình điều tra, T và Đ đã khai nhận toàn bộ về hành vi của mình.
* Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 384-24GĐPY ngày 02/8/2024Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y thuộc Sở Y đối với anh Lê Văn R, kết luận: Sẹo cánh tay - lưng phải, không ảnh hưởng chức năng: 2%; Sẹo cẳng tay trái: 3%; Vết thương cẳng tay trái đứt cơ gấp - duỗi cổ tay trụ đã phẩu thuật khâu nối hiện ảnh hưởng vận động ngón IV, V: 4%; Nứt rạn xương trụ trái: 3%.
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Văn R tại thời điểm giám định là: 11% (mười một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Vật gây:
- Tổn thương cánh tay phải-lưng phải do vật sắc tác động theo hướng từ sau ra trước chếch phải sang trái.
- Tổn thương cẳng tay trái do vật sắc tác động theo hướng từ mặt trụ đến mặt quay, từ cổ tay đến khuỷu tay.
* Vật chứng tạm giữ:
- - 01 cây dao, chiều dài 40,2cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 28,5cm, cán dao bằng gỗ dài 11,7cm, do Đặng Minh T giao nộp;
- - Xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 75K8-8876, màu sơn đỏ, số máy: JF27E-0086450; số khung: 08AY-084715; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 75K8-8876, chủ xe Ngô Thị Nhật P2 và 01 giấy mua bán xe ngày 26/01/2019.
* Về xử lý vật chứng: Ngày 10/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế đã trả 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 75K8-8876, màu sơn đỏ, số máy: JF27E-0086450; số khung: 08AY-084715; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 75K8-8876, đứng tên Ngô Thị Nhật P2 và 01 giấy mua bán xe ngày 26/01/2019 cho người quản lý hợp pháp là anh Đặng Minh H theo Quyết định xử lý vật chứng số 4309/QĐ-CQCSĐT và Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 10/12/2024.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Văn R đã nhận số tiền 50.000.000 đồng do Đặng Minh T và Hoàng Thành Đ bồi thường, anh R không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số: 15/CT-VKSQTH ngày 06/01/2025, Viện kiểm sát Nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố H đã truy tố các bị cáo Đặng Minh T và Hoàng Thành Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát Nhân dân quận Thuận Hoá giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt chính:
- - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Đặng Minh T từ 18 đến 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 36 đến 42 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Hoàng Thành Đ từ 09 đến 12 tháng tù kể từ ngày bắt giam thi hành án trong vụ án này; được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 21/9/2024 đến ngày 28/10/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cây dao, chiều dài 40,2cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 28,5cm, cán dao bằng gỗ dài 11,7cm, do Đặng Minh T giao nộp nhưng không phải là vật chứng của vụ án, T không có yêu cầu nhận lại nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu huỷ.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Văn R đã nhận đủ số tiền 50.000.000 đồng do Đặng Minh T và Hoàng Thành Đ bồi thường và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã được triệu tập hợp lên nhưng vẫn vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra thì họ đã có lời khai rõ ràng về các tình tiết của vụ án, lời khai của họ không mâu thuẫn với các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, việc vắng mặt của họ cũng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ vào Điều 292; Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an quận T; Điều tra viên; Viện kiểm sát Nhân dân quận Thuận Hoá; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Trên cơ sở lời khai của các bị cáo và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 04 giờ ngày 03/6/2024, tại công viên L, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (Nay là phường V, quận T, thành phố H) Đặng Minh T và Hoàng Thành Đ có hành vi dùng dao (là hung khí nguy hiểm) chém vào cẳng tay trái và vùng lưng bên phải của anh Lê Văn R gây thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11% (Mười một phần trăm).
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; với hành vi dùng dao (là hung khí nguy hiểm) chém anh Lê Văn R bị thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11% nên các bị cáo Đặng Minh T và Hoàng Thành Đ đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Do vậy, cáo trạng số 15/CT-VKSQTH ngày 06/01/2025, Viện kiểm sát Nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố H truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo Đặng Minh T và Hoàng Thành Đ có nhân thân tốt, không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện bồi thường thiệt hại; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; riêng bị cáo Đặng Minh T là quân nhân xuất ngũ nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về biện pháp chấp hành hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn quận T, nên cần áp dụng một hình phạt tương xứng với hành vi mà các bị cáo gây ra.
Trong vụ án này có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, không có sự phân công nhiệm vụ; trong đó T là người trực tiếp chém anh Lê Văn R, còn Đ là người tiếp nhận ý chí từ T thực hiện với vai trò giúp sức về mặt tinh thần.
Các bị cáo Đặng Minh T và Hoàng Thành Đ chưa có tiền án, tiền sự; không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, có việc làm ổn định và có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử nhận thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội thì bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, lẽ ra cần áp dụng thêm Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho cả 02 bị cáo được hưởng án treo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, chính sách nhân đạo của Nhà nước. Tuy nhiên, đối với bị cáo Hoàng Thành Đ, sau khi bị khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích”, đến ngày 17/9/2024 Đ đã có hành vi cùng đồng phạm sử dụng hung khí gây rối trật tự công cộng xảy ra tại đường Đ, phường T, quận T, thành phố H. Ngày 10/02/2025, Hoàng Thành Đ bị khởi tố bị can về tội “gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự và ngày 11/02/2025, Đ bị bắt tạm giam trong vụ án này. Xét thấy, Hoàng Thành Đ chưa có ý thức trong việc chấp hành pháp luật nên cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, biết tôn trọng chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội, cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đã khắc phục bồi thường đầy đủ cho bị hại, không thuộc trường hợp có thu lợi bất chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Đặng Minh T và Hoàng Thành Đ.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Văn R đã nhận số tiền 50.000.000 đồng do các bị cáo Đặng Minh T và Hoàng Thành Đ bồi thường và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cây dao, chiều dài 40,2cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 28,5cm, cán dao bằng gỗ dài 11,7cm thu giữ của Đặng Minh T, không phải là công cụ phạm tội và không phải là vật chứng của vụ án; không có giá trị sử dụng, bị cáo T không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đặng Minh T và Hoàng Thành Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
2. Về trách nhiệm hình sự:
- - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt: Bị cáo Đặng Minh T 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/02/2025).
- Giao bị cáo Đặng Minh T cho UBND phường T, quận P, thành phố H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thành Đ 09 (Chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt giam thi hành án đối với bản án này; được trừ thời gian tạm giam từ ngày 21/9/2024 đến ngày 28/10/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử: Tịch thu, tiêu hủy: 01 cây dao, chiều dài 40,2cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 28,5cm, cán dao bằng gỗ dài 11,7cm
(Vật chứng trên có đặc điểm như mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/01/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Thuận Hoá).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án; buộc các bị cáo Đặng Minh T và Hoàng Thành Đ mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | |
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Trần Thị Phương Hồng |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phương Hồng |
Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HOÁ, THÀNH PHỐ HUẾ về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 06/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HOÁ, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên bố bị cáo Đặng Minh Trung và đồng phạm phạm tội " Cố ý gây thương tích " khung hình phạt quy định tại khoản 2 điều 134 bộ luật hình sự 2015
