|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 06/2025/HSST Ngày: 20 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Ngọc Bích
- Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhi – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thành- Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Phạm Hữu T, sinh ngày 17 tháng 6 năm 1996 tại Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: số C T, Khu phố A, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: Tổ G, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hữu T1 và bà Nguyễn Thị C; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trần Thị T2, sinh năm 1961; địa chỉ: Tổ E, khu phố N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 30/9/2024, T đi xe khách đến huyện L, tỉnh Đồng Tháp để mua ma túy về sử dụng. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, T xuống xe và mượn điện thoại của xe khách để gọi điện thoại cho V; T quen biết vào khoảng tháng 9/2024 để mua ma túy, không rõ nhân thân, địa chỉ. V hẹn gặp T ở khu chợ N1 thuộc thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp và V bán cho T một bịch ma túy với số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Mua xong T đón xe khách về nhà tại đường N, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Tại đây, T lấy ra một ít ma túy để sử dụng, số ma túy còn lại T cất giấu trong ba lô màu đen của T. Đến khoảng 18 giờ 00 phút ngày 02/10/2024, T mang theo ba lô có đựng ma túy đến thuê phòng trọ số 15, nhà T do bà Trần Thị T2 làm chủ để ở. Đến 05 giờ 30 phút ngày 03/10/2024 thì bị Công an thị trấn K, huyện K kiểm tra bắt quả tang T đang cất giữ 01 (một) bịch nylon màu trắng, có nẹp gài viền màu trắng, có dán tấm giấy màu trắng, bên trong có các chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất, nghi là chất ma túy và được niêm phong gửi giám định. (Bút lục số 13 đến 15, 27, 31, 32, 54 đến 62).
Về vật chứng của vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ gồm: 01 (một) bịch nylon màu trắng, có nẹp gài viền màu trắng, có dán tấm giấy màu trắng, bên trong có các chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất, nghi là chất ma túy, được niêm phong gửi giám định; 01 (một) bình thủy tinh, thân bình có chữ THE GLENLIVET, phía trên có nắp bình bằng kim loại màu đen, có khoét 02 lỗ, gắn ống thủy tinh, là dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma túy, đã qua sử dụng; 01 (một) ba lô màu đen, có chữ PUMA, đã qua sử dụng. (Bút lục số 13 đến 15, 27, 33 đến 38).
Tại Kết luận giám định số: 1064/KL-KTHS ngày 08/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh K đã kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng, hình dạng không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon màu trắng có nẹp gài viền màu trắng gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,8901 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ. (Bút lục số 31).
Tại Bản cáo trạng số 04/CT-VKSKL ngày 17/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương đã truy tố bị cáo Phạm Hữu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đối với người tên V đã có hành vi bán ma túy cho T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Kiên Giang đã thẩm tra xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân nên chưa có cơ sở xử lý, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Kiên Giang tiếp tục điều tra xác minh làm rõ và sẽ xử lý sẽ xử lý khi có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Hữu T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1091/2024, ngày 10/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh K có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hoàng N, người chứng kiến Hồ Hoàng A và hình dấu tròn của Phòng K - Công an tỉnh K; 01 (một) bình thủy tinh, thân bình có chữ THE GLENLIVET, phía trên có nắp bình bằng kim loại màu đen, có khoét 02 lỗ, gắn ống thủy tinh, là dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma túy, đã qua sử dụng; 01 (một) ba lô màu đen, có chữ PUMA, đã qua sử dụng.
Bị cáo T không có ý kiến hay khiếu nại đối với kết luận giám định và khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như nội dung bản Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố tại phiên tòa.
Lời nói sau cùng của bị cáo: trong khoảng thời gian bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay, bị cáo đã thấy rất ăn năn, hối hận về hành vi sai trái của mình. Kính mong HĐXX xem xét xử nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm quay về giúp ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xét thấy Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Vào lúc 05 giờ 30 phút ngày 03/10/2024 tại phòng trọ số A, nhà T do bà Trần Thị T2 làm chủ nhà trọ tọa lạc số 13, đường M, tổ G, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, Phạm Hữu T bị Công an thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang phát hiện và bắt quả tang đang cất giữ 01 (một) bịch ma túy. Theo Kết luận giám định số: 1064/KL-KTHS ngày 08/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh K thì chất ma túy mà T cất giữ là loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,8901 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến thể hiện tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ và phù hợp với bản kết luận giám định. Hành vi tự ý cất giữ chất ma túy loại Methamphetamine khối lượng 0,8901 gam mà T thực hiện đã phạm vào tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên việc bị cáo T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương truy tố về tội danh và điều khoản như Bản cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người trưởng thành, đủ để nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm, xã hội lên án, nhưng chỉ vì thỏa mãn nhu cầu không lành mạnh mà bị cáo đã mua ma túy về tự ý cất giữ để sử dụng. Hành vi của bị cáo không chỉ gây ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe của bản thân mà còn gây ảnh hưởng xấu đến nhận thức và hành vi của tầng lớp thanh thiếu niên, làm phức tạp thêm tình hình an ninh và trật tự xã hội tại địa phương. Do đó, cần xử bị cáo mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Bị cáo có nhân thân tốt.
[5] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS 2015 thì bì cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy từ khi bị cáo bị bắt giữ đến nay không thể lao động tạo thu nhập nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo và xử lý vật chứng: chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng của vụ án.
[7] Về án phí: áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Phạm Hữu T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Đối với người tên V đã có hành vi bán ma túy cho T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Kiên Giang đã thẩm tra xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân nên chưa có cơ sở xử lý, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Kiên Giang tiếp tục điều tra xác minh làm rõ và sẽ xử lý khi có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật.
[9] Đối với bà Trần Thị T2, là chủ nhà trọ Thanh T3 đã cho T thuê trọ. Bà T2 không biết bị cáo T tàng trữ ma túy trong phòng nên bà T2 không cần phải có trách nhiệm liên quan đến hành vi của bị cáo T. Bị cáo T chỉ mới dọn vô ở một ngày, chưa gây thiệt hại gì cho bà T2 và bà cũng không yêu cầu gì đối với bị cáo T nên HĐXX không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Hữu T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 03/10/2024).
2. Về biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo và xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1091/2024, ngày 10/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh K có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hoàng N, người chứng kiến Hồ Hoàng A và hình dấu tròn của Phòng K - Công an tỉnh K; 01 (một) bình thủy tinh, thân bình có chữ THE GLENLIVET, phía trên có nắp bình bằng kim loại màu đen, có khoét 02 lỗ, gắn ống thủy tinh, là dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma túy, đã qua sử dụng; 01 (một) ba lô màu đen, có chữ PUMA, đã qua sử dụng.
Toàn bộ vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang theo Quyết định chuyển vật chứng số 04/QĐ-VKSKL ngày 17/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
3. Về án phí:
Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Phạm Hữu T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ; Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thành Minh |
Bản án số 06/2025/HSST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 06/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào lúc 05 giờ 30 phút ngày 03/10/2024 tại phòng trọ số 15, nhà trọ Thanh Thảo do bà Trần Thị Tuyết làm chủ nhà trọ tọa lạc số 13, đường Mạc Thiên Tích, tổ 07, khu phố Cư Xá, thị trấn Kiên Lương, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, Phạm Hữu Tài bị Công an thị trấn Kiên Lương, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang phát hiện và bắt quả tang đang cất giữ 01 (một) bịch ma túy. Theo Kết luận giám định số: 1064/KL-KTHS ngày 08/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang thì chất ma túy mà Tài cất giữ là loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,8901 gam.
