TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2025/HSST Ngày 19 - 2 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thanh Sơn;
2. Bà Nguyễn Thị Hoan.
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Việt Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: ông Phan Văn Tuyến – Kiểm sát viên.
Ngày 19/2/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST - HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST – HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo
Bùi Hồng S, tên gọi khác: không, sinh ngày 17/11/1999, tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Mường; giới tính: nam; tôn giáo: thiên Chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; họ tên bố: Bùi Văn T; họ tên mẹ Bùi Thị S1; vợ, con chưa có; tiền án: không; tiền sự: không. Nhân thân: ngày 17/01/2023 Công an huyện T, tỉnh Thanh Hoá xử phạt vi phạm hành chính 3.500.000 đồng về hành vi “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” ngày 22/2/2023 bị cáo đã chấp hành nộp phạt; ngày 10/02/2023 Công an huyện T, tỉnh Thanh Hoá xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma tuý” ngày 22/2/2023 bị cáo đã chấp hành nộp phạt. Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 21/12/2024 đến ngày 30/12/2024 chuyển tạm giam; hiện đang tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh N (bị cáo có mặt tại phiên toà).
- Người chứng kiến: anh Lê Văn N (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án có nội dung như sau: Bùi Hồng S là người sử dụng ma túy, do có nhu cầu sử dụng ma túy, chiều ngày 21/12/2024 S bắt xe khách đi từ nhà mình ra thành phố T, tỉnh Ninh Bình tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến khu vực gần Bệnh viện C1 và phục hồi chức năng thành phố T, S xuống xe và đi bộ vào ngạch 1, đường Q thuộc tổ B phường T thì gặp một người đàn ông không quen biết, đang đứng một mình ở lề đường qua nói chuyện S hỏi và mua được của người đàn ông 01 gói ma túy (heroine) với giá 500.000 đồng, gói ma tuý được gói ngoài bằng một chiếc khẩu trang màu trắng, bên trong lớp khẩu trang màu trắng có gói giấy bạc, bên trong lớp giấy bạc có chất bột dạng cục màu trắng. Sau khi bán ma tuý cho S người đàn ông bỏ đi, S cầm gói ma tuý vừa mua được ở tay trái đi bộ ra đường để bắt xe về nhà, lúc đó khoảng 18 giờ 10 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an thành phố T nghi ngờ có liên quan đến ma túy đã yêu cầu kiểm tra, tổ công tác yêu cầu S xuất trình căn cước công dân, S không xuất trình được và khai tên Bùi Hồng S, sinh ngày 17/11/1999; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Tổ công tác hỏi S đang cầm đồ vật gì trên tay trái của mình, S khai nhận đang cầm trên tay trái 01 gói ma tuý Heroine, S vừa mua được của một người không quen biết với giá 500.000 đồng để sử dụng cho bản thân và tự giác giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã kiểm tra gói mà S giao nộp xác định là một gói được gói ngoài bằng một chiếc khẩu trang màu trắng, bên trong lớp khẩu trang màu trắng có gói giấy bạc, bên trong lớp giấy bạc có chất bột dạng cục màu trắng S khai nhận là ma tuý. Tổ công tác tiến hành thu giữ và tiến hành niêm phong vào trong một phong bì giấy dán kín mép, trên mép dán có chữ ký của S và những người tham gia. Ngoài ra S còn tự giao nộp số tiền 140.000 đồng giao nộp cho tổ công tác. Sau đó tổ công tác đưa S cùng vật chứng về trụ sở Công an thành phố T lập biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại trụ sở Công an thành phố T, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột dạng cục mầu trắng thu giữ của Bùi Hồng S có khối lượng 0,21 gam ký hiệu QT01 gửi đi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 69/KL-KTHS-MT ngày 27/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu QT01 có khối lượng 0,2101 gam, là ma túy, loại Heroine (H).
Heroine (H) có tên khoa học là D, được quy định tại bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và là chất ma túy thuộc danh mục IA, số thứ tự 9, nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Quá trình điều tra, truy tố bị can Bùi Hồng S thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại Bản Cáo trạng số 09/CT– VKSTPTĐ ngày 20/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp đã truy tố bị cáo Bùi Hồng S để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Hồng S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bùi Hồng S từ 17 tháng tù đến 23 tháng tù, thời gian phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 21/12/2024.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Trả lại số tiền 140.000 đồng (một trăm bốn mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 cho bị cáo Bùi Hồng S.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì giấy niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên ngoài ghi số: 69/KL-KTHS-MT, vụ: Bùi Hồng S, sinh năm 1999, cất giấu trái phép chất ma tuý xảy ra ngày 21/12/2024 tại phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm QT01 = 0,1541 gam, là ma túy, loại Heroine cùng toàn bộ vỏ, bao gói được niêm phong; 01 phong bì giấy niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 mảnh giấy bạc có kích thước (5,5x4,5)cm; 01 chiếc khẩu trang màu trắng, kích thước (23x13,5)cm.
- - Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận do có nhu cầu về sử dụng ma tuý, bị cáo đã đi đến địa bàn phường T, thành phố T với mục đích tìm mua ma tuý về sử dụng. Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 21/12/2024 tại tổ B, phường T, thành phố T khi vừa mua xong gói ma tuý, đang đi ra đường để về thì bị Tổ công tác Công an thành phố T phát hiện bắt giữ.
Lời nói sau cùng bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về làm người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Bùi Hồng S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến. Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ. Kết luận giám định số 69/KL- KTHS-MT ngày 27/12/2024 của Phòng K - Công an tỉnh N và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 18 giờ 10 phút ngày 21/12/2024, tại đầu đường N, đường Q, thuộc tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình, Bùi Hồng S có hành vi tàng trữ trái phép 0,2101 gam, ma túy, loại Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, thì bị Công an thành phố T phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy; xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,2101 gam, ma túy, loại Heroine để sử dụng. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a, ....
b, .....
c, H1, C, M, A, MDMA hoặc XLR – 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...”
Bản Cáo trạng số 09/CT– VKSTĐ ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp đã truy tố bị cáo Bùi Hồng S với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.
[2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Nhân thân: ngày 17/01/2023 Công an huyện T, tỉnh Thanh Hoá xử phạt vi phạm hành chính 3.500.000 đồng về hành vi “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” ngày 22/2/2023 bị cáo đã chấp hành nộp phạt; ngày 10/02/2023 Công an huyện T, tỉnh Thanh Hoá xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma tuý” ngày 22/2/2023 bị cáo đã chấp hành nộp phạt
[3] Về hình phạt: xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, việc bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của con người, cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt khác của đời sống xã hội. Khi quyết định hình phạt cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
+ Về hình phạt bổ sung: bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng cho bản thân, không vì vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua của một người đàn ông không biết lai lịch, địa chỉ ở đâu; vì vậy, không đủ căn cứ để điều tra, xử lý đối với người đã bán ma tuý cho bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án:
+ Đối với số tiền 140.000 đồng đã thu giữ của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
+ Đối với 0,1541 gam chất bột dạng cục màu trắng, là ma túy, loại Heroine được hoàn trả sau giám định cùng toàn bộ vỏ, bao gói được niêm phong trong 01 phong bì giấy niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên ngoài ghi số: 69/KL-KTHS-MT, vụ: Bùi Hồng S, sinh năm 1999, cất giấu trái phép chất ma tuý xảy ra ngày 21/12/2024 tại phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm QT01 = 0,1541 gam, là ma túy, loại Heroine cùng toàn bộ vỏ, bao gói được niêm phong; 01 phong bì giấy niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 mảnh giấy bạc có kích thước (5,5x4,5)cm; 01 chiếc khẩu trang màu trắng, kích thước (23x13,5)cm, là những vật chứng chứng minh tội phạm, không còn giá trị sử dụng và là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành do vậy cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy các vật chứng trên.
[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[7] Án phí hình sự: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: bị cáo Bùi Hồng S phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Về hình phạt: xử phạt bị cáo: Bùi Hồng S 17 (mười bẩy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 21/12/2024.
- Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
- - Trả lại số tiền 140.000 đồng (một trăm bốn mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 cho bị cáo Bùi Hồng S.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì giấy niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên ngoài ghi số: 69/KL-KTHS-MT, vụ: Bùi Hồng S, sinh năm 1999, cất giấu trái phép chất ma tuý xảy ra ngày 21/12/2024 tại phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm QT01 = 0,1541 gam, là ma túy, loại Heroine cùng toàn bộ vỏ, bao gói được niêm phong; 01 phong bì giấy niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 mảnh giấy bạc có kích thước (5,5x4,5)cm; 01 chiếc khẩu trang màu trắng, kích thước (23x13,5)cm.
- (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/01/2025 và uỷ nhiệm chi lập ngày 20/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp).
- Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm báo để bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhân:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa đã ký Phan Ngọc Hà |
Bản án số 06/2025/HSST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 06/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Hồng S phạm tội tàng trữ ma tuý
