Hệ thống pháp luật

TAND THỊ XÃ CHŨ

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 06/2025/HS-ST

Ngày 18 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sang

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lãnh Văn Việt, ông Phạm Văn Chữ

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Diệp Thu Trang, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai, Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Nguyễn Tuấn A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1998 tại thị xã V, tỉnh Bắc Giang; Nơi thường trú và chỗ ở: thôn Đ, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 11/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Nguyễn Văn H, sinh năm 1973; Mẹ đẻ: Phùng Thị Đ, sinh năm 1979; Anh, chị em ruột: Có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Phạm Thị C, sinh năm 2000; Con: Chưa có

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo Nguyễn Tuấn A có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1974 (đã chết)

* Người đại diện hợp pháp của người bị hại:

  1. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1973 (có mặt)
  2. Chị Nguyễn Thị Tú U, sinh năm 1994 (vắng mặt)
  3. Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1996 (vắng mặt)
  4. Ông Hoàng Văn S, sinh năm 1950 (vắng mặt)
  5. Bà Lê Thị T3, sinh năm 1952 (vắng mặt)

Đều trú tại: thôn T, xã Q, thị xã C, tỉnh Bắc Giang

Người đại diện theo ủy quyền của ông S, bà T3, chị U, anh T2: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1973; địa chỉ: thôn T, xã Q, thị xã C, tỉnh Bắc Giang (có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Công ty TNHH sản xuất và thương mại Hà Bình
  2. Địa chỉ: khu đô thị Đ, phường H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang

    - Đại diện theo pháp luật: ông Ngô Văn L, chức vụ: Tổng Giám đốc

    - Đại diện theo ủy quyền: ông Đặng Văn T4, chức vụ: Phó Giám đốc (có mặt)

  3. Ngân hàng TMCP V (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: số H, L, phường L, quận Đ, Hà Nội

    - Đại diện theo pháp luật: ông Ngô Chí D, Chủ tịch HĐQT

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1998 trú tại thôn Đ, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang có Giấy phép lái xe hạng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 11/7/2024, có giá trị đến ngày 11/7/2029. Ngày 18/7/2024, Tuấn A ký hợp đồng làm lái xe cho công ty TNHH S2 (gọi là Công ty S2) có trụ sở tại phường H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

Ngày 20/9/2024, Công ty S2 giao xe ô tô tải BKS 98C-28631 cho Tuấn A để chở hàng cho khách ở xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là xã N, thị xã C); đi cùng xe với Tuấn A có anh Hoàng Văn H1, sinh năm 1974 trú tại thôn T, xã T, huyện L. Tuấn A điều khiển xe ô tô tải BKS 98C-28631 đi trên Quốc lộ C hướng Bắc Giang đi L. Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, Tuấn A điều khiển xe ô tô đến đoạn Km38 Quốc lộ C, đoạn đường giao nhau giữa Quốc lộ C và Tỉnh lộ 298 (ngã tư) thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện L (nay là Tổ dân phố T, phường T, thị xã C). Khi cách ngã tư khoảng 50m, đèn báo hiệu giao thông báo hiệu màu đỏ, Tuấn A điều khiển xe ô tô đi chậm và bật xi nhan rẽ phải để đi sang Tỉnh lộ 298 hướng phường N; phía trước bên phải xe Tuấn A có bà Hoàng Thị T, sinh năm 1974 trú tại thôn T, xã Q, huyện L (nay là thôn T, xã Q, thị xã C) điều khiển xe mô tô biển số 98E1-68481 di chuyển theo hướng Bắc Giang đi S. Khi đèn tín hiệu giao thông chuyển màu xanh, Tuấn A điều khiển xe rẽ phải sang đường tỉnh 289 sang xã N, vượt qua xe mô tô do bà T điều khiển (xe của bà T vẫn đi thẳng). Do không chú ý quan sát nên khi chuyển hướng cánh cửa bên phải của xe ô tô do Tuấn A điều khiển đã va chạm vào tay nắm bên trái xe mô tô do bà T điều khiển làm xe mô tô và bà T ngã đổ ra đường, các bánh lốp số I, số II bên phải của xe ô tô chèn đè lên xe mô tô và cơ thể bà T. Tuấn A điều khiển xe ô tô rẽ phải hướng N thêm khoảng 100m nữa rồi đỗ xe vào rìa đường xuống xe nhờ người dân đưa bà T đi cấp cứu nhưng do vết thương quá nặng nên bà T đã tử vong cùng ngày; xe mô tô bị hư hỏng (BL 121-194; 226-235).

Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma tuý đối với Nguyễn Tuấn A, kết quả âm tính; tiến hành kiểm tra nồng độ cồn đối với Nguyễn Tuấn A, kết quả 0,000mg/l (BL 116-120).

Cơ quan điều tra đã phối hợp với Viện kiểm sát và cơ quan chuyên môn tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện, kết quả như sau:

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường vụ tai nạn giao thông là đoạn đường rẽ từ Quốc lộ C, thuộc Km 38 + 840 rẽ phải theo chiều Bắc Giang đi hướng S, đi sang đường tỉnh lộ 289 đi xã N, thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vị trí rẽ mặt đường trái nhựa rộng 30m vào hai làn đường một chiều, mỗi làn rộng 9m30. Tuyến Quốc lộ C rộng 13m40. Ghi nhận việc đánh số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật dấu vết: 02 vết xước mặt đường ký hiệu số 1 và 2, đám mảnh vỡ nhựa, 01 một đôi dép nhựa màu trắng, 01 biển số xe mô tô ký hiệu số 03, 01 xe mô tô biển số 98E1-684.81 ký hiệu số 4, 01 mũ bảo hiểm màu đỏ ký hiệu số 5. Đám chất màu nâu đỏ ký hiệu số 6, đám chất màu nâu đỏ dạng vệt đứt quãng dài rác ký hiệu số 7; 01 xe ô tô tải biển số 98C-286.31. Lấy trụ đèn tín hiệu trên lề đường phải chiều Bắc Giang đi S và cột điện số 2 trên lề đường phải đường rẽ Quốc lộ C hướng cầu mới đe xã N làm điểm mốc. Lấy mép đường bên phải đường Quốc lộ 31 đi cầu mới làm mép đường chuẩn. Vết xước mặt đường đứt đoạn ký hiệu số 01 kích thước (150x1,5)cm, đầu vết cách trụ đèn tín hiệu là 23m, cách cột điện lưới là 540cm. Cách mép đường chuẩn là 260m, cuối vết cách mép đường chuẩn là 255cm. Vết xước mặt đường ký hiệu số 2 kích thước (110x1,5)cm, đấu vết cách vết số 1 là 85 cm, các mép đường chuẩn là 280cm, cuối vết cách mép đường chuẩn là 285cm. Đám mảnh nhựa vỡ, 01 đối dép nhựa màu trắng, 1 biển số xe mô tô ký hiệu số 3, tâm đám mảnh vỡ cách đầu vết số 2 là 70cm, cách méo đường chuẩn là 410cm, đám mảnh vỡ có kích thước là 140x130cm. Xe mô tô biển số 98E1-68481 đổ nghiêng bên trái đầu xe hướng quốc lộ C chiều đi S đi Bắc Giang. Trục sau cách mép đường chuẩn là 260cm, xe mô tô ký hiệu số 4. Mũ bảo hiểm màu đỏ ký hiệu số 5, cách trụ sau xe mô tô ký hiệu số 4 là 60cm, cách mép đường chuẩn là 260cm. Đám chất màu nâu dải rác là hình rộng cong đứt đoạn, ký hiệu số 7, trên diện 11m x 50cm. Đầu vết cách tâm vết số 6 là 270cm, cách mép đường chuẩn là 420cm, cuối vết mép đường chuẩn là 740 cm. Xe ô tô tải biển số 98C-286.31 ký hiệu số 8. Tại thời điểm khám nghiệm xe bật đèn cảnh báo nguy hiểm, dừng đỗ sát mép đường, đầu xe hướng cầu mới đi xã N. Trục sau bên trái cách đầu vết số 7 là 49m60, trục sau và trục trước bên phải cách mép đường chuẩn là 8cm. Thu giữ mẫu chất màu nâu đỏ tại vị trí số 6, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Ht-6”. (BL 12A-30).

Kết quả khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông:

Xe ô tô nhãn hiệu tải biển số 98C-286.31: Tại vị trí mặt ngoài lốp xe bên phải, phía trước có vết trượt cao su, sạch bụi có kích thước (32x10)cm, đầu vết số 01 cách van xe 35cm, theo hướng ngược kim đồng hồ. Vết số 02, có kích thước (15x2)cm cách chân van 53cm, theo hướng ngược kim đồng hồ. Tại mặt ngoài lốp số 02 bên phải có vết trượt cao su, gồm 02 vết như sau: Vết số 1 có kích thước 22x20cm, cách đầu van xe 25cm; Vết số 2 có kích thước 25 x 19cm, cách van xe 60cm, theo chiều kim đồng hồ. Mặt ngoài lốp bên trong, bánh số 2 bên phải xe ô tô có bám chất màu nâu đỏ (nghi là máu) kích thước 30 x 12cm. Tại mặt lăn có kích thước 17 x20cm. Tại mặt trong chắn bùn lốp thứ 3 bên phải có bám chất dạng màu nâu đỏ, nghi là máu kích thước 20 x 40cm. Mặt ngoài cánh cửa bên phải của xe tại vị trí cụm đèn bên phỉa 12 cm, cách mặt đất 104cm, có vết lõm trượt, xước kim loại sạch bụi đất, in hằn cách đường thẳng song song hằn vân vải, trên diện (17,5x4,5)cm. Xe mô tô biển số 98E1-684.81: Tại phần mũi chắn bùn phía trước xe mô tô có vết mài trượt nhựa đứt đoạn, kích thước (4x0,5)cm. Tại phần đầu tay cầm lái bên trái có vết mài trượt sắt theo hướng từ ngoài vào trong kích thước (3x1)cm. Đầu ngoài tay nắm bên trái, tại vị trí đầu ốc cố định có dấu vết trượt xước kim loại, bám dính chất màu trắng dạng sơn, trên diện 0,6x0,2cm. Tại gương chiếu hậu của xe bên trái bị cong vênh, lệch khỏi vị trí ban đầu, theo hướng từ ngoài vào trong. Tại gương bên trái phần đầu xe có vết mài trượt sắt kích thước(2x1)cm. Tại kệ để chân bên trái xe bị cong vênh, lệch khỏi vị trí ban đầu, theo hướng từ ngoài vào trong. Đế cao su tại nơi để chân bên trái bị mòn lệch theo hướng từ trái sang phải. Tại kệ để chân phía sau, bên trái phần đế sắt bị cong theo hướng từ trong ra ngoài. Tay xách sau xe phía bên trái có vết mài trượt cao su bám lẫn vết bụi theo chiều hướng từ trước về sau, kích thước (16x4)cm. Đèn hậu phía sau xe bị vỡ và hư hỏng hoàn toàn. Ốp nhựa phía trên đèn hậu sau xe bị vỡ và hư hỏng hoàn toàn. Ốp chắn bùn và phần nhựa gắn biển số xe bị vỡ khỏi xe, và hư hỏng hoàn toàn. Biển số xe bị vỡ, cong vênh theo hườn từ ngoài vào trong (BL 40-58).

Kết quả khám nghiệm tử thi Hoàng Thị T có các kết quả chính như sau:

Trên cơ thể Hoàng Thị T có các tổn thương sưng nề, bầm tím, sây sát, dập, rách da tập trung tại các vùng mặt, bụng và hai chân. Gẫy kín đốt sống thắt lưng từ L, gãy phức tạp khung chậu. Kiểm tra tổn thương mặt sau gối trái thấy: Dập, rách da và tổ chức dưới da, để lộ gân, cơ, xương đùi và hai xương cẳng chân trái làm tổn thương mạch máu, thần kinh ở nhiều vị trí và mức độ khác nhau, qua đó có nhiều máu lẫn dịch tủy xương thoát ra bên ngoài. Chọc hút ổ bụng bằng kim tiêm thấy có nhiều máu không đông; thu mẫu máu tử thi, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “Máu T” (BL 59-61).

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ của Nguyễn Tuấn A: 01 xe ô tô tải biển số 98C-286.31; 01 giấy biên nhận giữ bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô nhãn hiệu 98C-28631 của Ngân hàng Thương mại cổ phần V; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 3626125, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số 051OTBB240000215; 01 giấy phép lái xe hạng C có số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 11/07/2024 mang tên Nguyễn Tuấn A, 01 giấy phép lái xe hạng C có số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 08/04/2024 mang tên Nguyễn Tuấn A. Thu giữ của bà Hoàng Thị T: 01 xe mô tô biển số 98E1- 684.81; 01 giấy phép lái xe hạng A1 có số [...] mang tên Hoàng Thị T và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô biển số 98E1-684.81.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định nguyên nhân chết của bà Hoàng Thị T, giám định mẫu vật đã thu giữ, chiều hướng, cơ chế, vị trí va chạm hình thành dấu vết và định giá thiệt hại tài sản trong vụ tai nạn giao thông đường bộ. Kết quả:

Bản Kết luận số 2225/KL-KTHS ngày 18/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Nguyên nhân chết của Hoàng Thị T do đa chấn thương: Chấn thương cột sống; chấn thương bụng kín; gãy kín khung xương chậu”. (BL 62-64).

Bản Kết luận giám định số 2214 ngày 17/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Mẫu máu tử thi Hoàng Thị T được niêm phong gửi giám định thuộc nhóm máu A; mẫu thu tại hiện trường được niêm phong trong phong bì ký hiệu “HT-6”, gửi giám định có máu người, nhóm máu A” (BL 78-80).

Bản kết luận số 7789 kết luận ngày 21/10/2024 của V1 Bộ C1 kết luận: “Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của ma túy trong mẫu máu ghi ký hiệu “Máu T” gửi giám định” (BL 81-82).

Bản Kết luận giám đính số 1518 ngày 07/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

“1. Dấu vết lõm, trượt xước kim loại, bám dính chất màu đen, hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên ở mặt ngoài cánh cửa bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 98C-286.31 phù hợp với dấu vết trượt xước sơn, kim loại, bám dính chất màu trắng hướng từ sau ra trước ở đầu ngoài tay nắm bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-684.81.

- Dấu vết trượt xước cao su, kim loại, sạch bụi đất, bám dính chất màu đen, hướng từ mặt lăn vào tâm trục, ngược chiều chuyển động tiến ở bên phải má lốp và la zăng bánh số I, bên phải của xe ô tô biển số 98C-286.31 (ảnh 5 bản ảnh khám nghiệm phương tiện), phù hợp với dấu vết chùn cong kim loại, trượt xước cao su, hướng từ trên xuống dưới ở để chân trước bên trái, bên trái chân ông và để chân sau bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-684.81 (ảnh 7,8 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).

- Dấu vết trượt xước cao su, sạch bụi đất, bám dịnh chất màu xám bạc, hướng từ mặt lăn vào tâm trục ở mặt lăn lốp trục bánh số II bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 98C-286.31 (ảnh 7 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết vỡ khuyết nhựa, trước xước cao su, bám dính chất màu đen, hướng từ trên xuống dưới ở tay xách, cụm đèn hậu và chắn bùn bánh sau của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-684.81 (khi xe mô tô trong trạng thái đổ nghiêng bên trái, ảnh 10 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).

2, Dấu vết mài trượt cao su, bám dính chất màu đỏ, dạng bắn, quyệt trượt, hướng từ mặt lăn vào tâm trục ở mặt lăn và má lốp trục bánh số 2 bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 98C-286.31 (ảnh 9 bản ánh khám nghiệm phương tiện) được hình thành do chén đè lên cơ thể nạn nhân Hoàng Thị T tạo nên. Vị trí chèn đè trong diện dấu vết màu nâu đỏ ký hiệu số 6 (ảnh số 21 bản ảnh khám nghiệm trên hiện trường).

3. Vị trí va chạm giữa hai xe ô tô biển kiểm soát 98C-286.31 và xe mô tô mang biển kiểm soát 98E1-684.81 trên mặt đường, tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 1 và số 2 trong khu vực giao nhau giữa đường Q và đường đi cầu mới (hướng đi xã N).

4. Căn cứ vào chiều hướng dấu vết va chạm hai phương tiện và dấu vết trên hiện trường, xác định thời điểm xảy ra tại nạn xe ô tô biển kiểm soát 98C-286.31 chuyển động theo hướng đường Q vào đường đi cầu mới (hướng đi xã N). Không xác định được chiều hướng chuyển động của xe mô tô biển soát 98E1-684.81

5. Không xác định được tốc độ của 02 phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn”.

Bản kết luận định giá số 119 ngày 07/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Wave mang biển số 98E1-684.81 bị thiệt hại số tiền 620.000 đồng (BL 86-88).

Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông trên là do lỗi của Nguyễn Tuấn A điều khiển xe ô tô chuyển hướng nhưng không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn khi chuyển hướng dẫn đến xe ô tô do Tuấn A điều khiển va chạm vào xe mô tô do bà T điều khiển, hậu quả làm bà T tử vong. Hành vi của Nguyễn Tuấn A vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ năm 2008.

Khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định “2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác”.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Tuấn A đã bồi thường cho gia đình bà Hoàng Thị T tổng số tiền là 210.000.000 đồng; người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm hay đề nghị gì và có đơn xin miễn, giảm truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị can Nguyễn Tuấn A.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tuấn A đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như cáo trạng truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình đã thực hiện là sai, vi phạm pháp luật và hứa cải tạo tốt, không tái phạm.

Đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn T1 không yêu cầu bồi thường gì thêm và đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đại diện theo ủy quyền của công ty TNHH S2 không yêu cầu bồi thường hư hỏng xe ô tô biển kiểm soát 98C-286.31.

Bản cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù cho hưởng án treo về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Tuấn A cho UBND xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Ngoài ra còn đề nghị về án phí hình sự sơ thẩm, xem xét về quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, Viện kiểm sát nhân dân thị xã C, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Nguyễn Tuấn A tại phiên tòa đã thừa nhận bị cáo thực hiện hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, cụ thể: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 20/9/2024, tại K Quốc lộ C là đường giao nhau giữa Quốc lộ C và Tỉnh lộ 298 thuộc địa phận thôn T, xã T, thị xã C; khi đèn tín hiệu giao thông chuyển màu xanh, Nguyễn Tuấn A điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 98C-28631 có tín hiệu rẽ phải sang đường tỉnh 298 sang xã N, vượt qua xe mô tô biển kiểm soát 98E1- 684.81 do bà T điều khiển. Do không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn khi chuyển hướng (vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ) nên cánh cửa bên phải của xe ô tô do Tuấn A điều khiển đã va chạm vào tay nắm bên trái xe mô tô do bà T điều khiển làm xe mô tô và bà T ngã đổ ra đường; các bánh lốp số I, số II bên phải của xe ô tô chèn đè lên xe mô tô và cơ thể bà T. Hậu quả làm bà T tử vong.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Lời khai của bị cáo cũng hoàn toàn phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm và được chứng minh bằng các chứng cứ như: biên bản khám nghiệm hiện trường; khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; các kết luận giám định; biên bản, kết luận khám nghiệm tử thi. Nguyên nhân dẫn đến tai nạn là do bị cáo điều khiển xe ô tô chuyển hướng nhưng không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn khi chuyển hướng (vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ năm 2008). Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung. Viện kiểm sát nhân thị xã C truy tố bị cáo về tội danh, điều luật trên theo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt; không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đánh giá về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Tuấn A, HĐXX xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông mà pháp luật nhà nước ta bảo vệ, gây hậu quả làm chết một người. Do đó cần xử lý nghiêm, áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Tuấn A là người có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; sau khi gây tai nạn đã chủ động bồi thường, khắc phục hậu quả và được đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 210.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Đại diện gia đình bị hại là ông Nguyễn Văn T1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm; không yêu cầu bồi thường thiệt hại về hư hỏng xe mô tô biển kiểm soát 98E1-684.81; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH S2 do ông Đặng Văn T4 đại diện theo ủy quyền không yêu cầu bồi thường thiệt hại về hư hỏng xe ô tô biển kiểm soát 98C-286.31. Vì vậy, HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[5]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe ô tô tải biển số 98C-286.31, 01 giấy biên nhận giữ bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô nhãn hiệu 98C-28631 của Ngân hàng Thương mại cổ phần V, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 3626125; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số 051OTBB240000215. Cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty TNHH S2.

Đối với 01 xe mô tô biển số 98E1- 684.81, 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Hoàng Thị T và 01 giấy đăng ký xe mô tô có số 062760. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Văn T1 là chồng của bà Hoàng Thị T.

Đối với 02 giấy phép lái xe của Nguyễn Tuấn A có số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh B và Bắc Giang cấp không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại bị cáo.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; đại diện hợp pháp của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 18/02/2025.

Giao bị cáo Nguyễn Tuấn A cho UBND xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

[2]. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 02 giấy phép lái xe có số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh B và Bắc Giang cấp mang tên Nguyễn Tuấn A.

(Đặc điểm vật chứng của vụ án theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chũ).

[3]. Về án phí: Bị cáo phải chịu số tiền 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.iêQuyeets

[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người đại diện hợp pháp của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thị xã Chũ;
  • - Cơ quan THAHS và Cơ quan điều tra - Công an thị xã Chũ;
  • - THADS thị xã Chũ;
  • - Bị cáo và người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Nguyễn Văn Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: af
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger