|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày: 18 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Linh Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đích – Cán bộ hưu trí
Bà Vũ Thị Lệ Thủy – Cán bộ hưu trí
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mỹ Thương - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Sơn Trà TP Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Tuấn Thanh Tứ - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 2 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2025/HSST ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1/Lê Thị Uyên, sinh ngày 07/03/1993 tại Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Không. HKTT và nơi ở hiện tại: 56 đường V, tổ H, phường T, quận S, TP .. Tiền án, tiền sự: Không. Con ông: Lê Văn C (SN: 1969) và bà Trần Thị H (SN: 1971; cùng trú tại: E đường V, tổ H, phường T, quận S, TP .). Bị can là con duy nhất. Chồng: Võ Mai H1 (SN: 1987), con: Đỗ Minh H2 (SN: 2011) và Võ Thanh P (SN: 2019), cùng trú tại: tổ H, phường T, quận S, TP ..
Bị cáo bị tạm giam ngày 21/11/2024. Có mặt.
2/ Họ tên: Lê Nguyễn C1. Sinh ngày: 10 tháng 01 năm 1999 tại thành phố Đà Nẵng. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Không. HKTT và nơi ở hiện tại: P Chung cư S, tổ A, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 27/3/2024, bị Ủy ban nhân dân phường T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Con ông: Lê Văn M (SN: 1972) và bà Nguyễn Thị C2 (SN: 1976; cùng trú tại: tổ A, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng). Gia đình có hai chị em, bị can là con thứ hai.
Bị cáo bị tạm giam ngày 21/11/2024. Có mặt.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Thu T, sinh năm 1996. Nơi cư trú: P Chung cư S, tổ A, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt
- Người chứng kiến: Bà Vũ Thị V, sinh năm 1965. Nơi cư trú: Tổ A, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ 45 phút ngày 21/11/2024, Đội CSĐTTP Hình sự - Kinh tế và Ma tuý Công an quận S phối hợp cùng Công an phường T, quận S, TP . tiến hành kiểm tra phòng 502 Chung cư S, phường T, quận S, TP .. Tại thời điểm kiểm tra, trong phòng 502 có Lê Nguyễn C1 và Lê Thị U. Qua kiểm tra phát hiện, trong phòng ngủ của C1 cất giấu 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, trên đầu tủ lạnh có 01 gói ni lông chứa chất tinh thể rắn màu trắng, trên ghế gỗ gần giường ngủ của C1 có 01 vỏ thuốc lá hiệu “White Horse" bên trong chứa 04 gói ni lông chứa chất tinh thể rắn màu trắng. Tiếp tục kiểm tra trên người U phát hiện bên trong quần lót U đang mặc (phía sau mông) cất giấu 05 gói ni lông bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng. C1 và U khai nhận chất tinh thể rắn màu trắng trong các gói ni lông là ma tuý đá của C1 và U mua về, phân nhỏ ra bán lại cho người mua để kiếm lời, bộ dụng cụ sử dụng ma tuý là của C1 dùng để sử dụng ma tuý. Lực lượng công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ C1 và U cùng tang vật.
* Tang vật tạm giữ :
- - 01 gói ni lông, kích thước khoảng (04x07)cm chứa chất tinh thể rắn màu trắng, ký hiệu niêm phong "C1"; 02 gói ni lông, kích thước khoảng (02x02)cm chứa chất tinh thể rắn màu trắng và 02 gói ni lông, kích thước khoảng (03x02)cm chứa chất tinh thể rắn màu trắng, ký hiệu niêm phong "C2" thu giữ của C1;
- - 03 gói ni lông, kích thước khoảng (02x02)cm chứa chất tinh thể rắn màu trắng và 02 gói ni lông, kích thước khoảng (03x02)cm chứa chất tinh thể rắn màu trắng, ký hiệu niêm phong "C" thu giữ của U;
- - 01 vỏ thuốc lá hiệu “White Horse" thu giữ của C1;
- - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (gồm ống hút nhựa, chai nhựa, ống thuỷ tinh) thu giữ của C1,
- - 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh đen, số Imeil: 866855069826873, sim số: 0766799391 thu giữ của U;
- - 01 điện thoại di động hiệu Horno màu xanh, số Imeil: 868355061510896, sim số: 039962-356 thu giữ của C1;
- - 250.000 đồng thu giữ của U.
Quá trình điều tra xác định:
* Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Lê Thị U, Lê Nguyễn C1 như sau:
Khoảng 12 giờ 05 phút ngày 21/11/2024, Lê Thị U ở nhà của Lê Nguyễn C1 tại phòng E Chung cư S, phường T, quận S, TP .. Tại đây, U nảy sinh ý định mua ma tuý về bán lại kiếm lời nên rủ C1 cùng thực hiện thì C1 đồng ý. U liên hệ với một người có tài khoản T1 tên “D” (chưa rõ nhân thân lai lịch) để mua 2.200.000 đồng ma tuý đá thì người này đồng ý và hẹn đến đường P, quận S, TP . để thực hiện giao dịch mua bán trái phép chất ma tuý (U thấy người này đăng bài quảng cáo bán ma tuý trên ứng dụng Telegram nên liên hệ mua, sau khi mua ma tuý xong U đã xoá mọi thông tin liên lạc). U nhờ C1 dùng tài khoản Momo chuyển khoản số tiền 2.200.000 đồng mua ma tuý cho một tài khoản Momo tên Nguyễn Tấn H3, số điện thoại 0934.898.xxx. Sau đó, C1 sử dụng xe mô tô hiệu SH150 màu trắng mang BKS 43E1-569.05 chở Uyên đến điểm hẹn, “D” vứt gói ma tuý ở bụi cỏ trên đường rồi chỉ U đến lấy. Sau khi mua được ma tuý, C1 chở U về lại phòng 502 Chung cư S (C1 và U không biết mặt “D”) và cùng nhau phân chia ma tuý vào các gói ni lông nhỏ để bán cho người mua kiếm lời.
Đến khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày, có một nam thanh niên tên H4 (chưa rõ nhân thân lai lịch) sử dụng số điện thoại 0905.062.xxx gọi điện cho C1 hỏi mua 700.000 đồng ma tuý đá, C1 nói với U thì U đồng ý. C1 hẹn H4 đến khu vực đường L, phường T, quận S, TP . để thực hiện giao dịch mua bán trái phép chất ma tuý. H4 chuyển số tiền 700.000 vào tài khoản Momo của C1. C1 dùng tài khoản ZaloPay của mình chuyển lại số tiền 700.000 đồng bán ma tuý vào tài khoản ZaloPay của U, rồi một mình điều khiển xe mô tô đến điểm hẹn giao ma tuý cho H4, sau đó C1 về lại phòng 502. Đến khoảng 13 giờ 10 phút cùng ngày, một người phụ nữ tên “Sáu” (chưa rõ nhân thân lai lịch) gọi điện thoại cho U hỏi mua 250.000 đồng ma tuý thì U đồng ý. Lúc này, U nói Chung cầm gói ma tuý xuống dưới Chung cư S để giao và lấy 250.000 đồng tiền bán ma tuý thì C1 đồng ý. Một lúc sau, C1 giao ma tuý cho người phụ nữ và mang số tiền 250.000 đồng bán ma tuý lên phòng đưa cho U. Uyên chuyển số tiền 200.000 đồng tiền công giúp U bán ma tuý vào tài khoản Zalo Pay cho C1. Số tiền này C1 đã sử dụng để chơi game hết. Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày thì bị lực lượng công an phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ C1, U cùng tang vật.
Kiểm tra ma tuý đối với C1 và U vào ngày 21/11/2024 cho kết quả: C1 và U dương tính với ma tuý. Theo lời khai của C1 và U: C1 sử dụng ma tuý đá một mình tại nhà của mình vào khoảng 10 giờ ngày 21/11/2024; U sử dụng ma tuý đá một mình tại nhà của mình (số E đường V, phường T, quận S, TP .) vào ngày 18/11/2024. Ma tuý U, C1 nhờ bạn ngoài xã hội (không rõ lai lịch) mua giúp, đã sử dụng hết.
Kiểm tra điện thoại của C1 và U ghi nhận các giao dịch chuyển tiền mua bán trái phép chất ma tuý giữa C1 với U; giữa C1 với H4 và giữa C1 với người bán ma tuý cho U. Ngoài ra không có thông tin nào khác liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma tuý.
Tại Kết luận giám định số 969/KL-KTHS ngày 28/11/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ xác định:
Tinh thể rắn màu trắng trong các gói niêm phong ký hiệu C, C1, C2 gửi giám định đều là ma túy, loại Methaphetamine; khối lượng mẫu C: 0,692 gam C1: 0,074 gam, mẫu C2: 0,560 gam.
Cơ quan CSĐT Công an quận S đã có công văn yêu cầu xác minh thông tin chủ thuê bao số điện thoại 0905.062.xxx (số điện thoại của H4 người liên hệ mua ma tuý của C1), 0766799391 (số điện thoại của U), 0399.620.xxx (số điện thoại của C1), tài khoản Momo tên Nguyễn Tấn H3, số điện thoại 0934.898.xxx (của người tên D đã bán ma tuý cho U), tài khoản M1 và ví Zalopay của C1, U nhưng đến nay chưa có kết quả trả lời.
Tại bản Cáo trạng số 16/CT -VKS - ST ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo Lê Nguyễn C1 và Lê Thị U về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- * Về hình phạt: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 BLHS xử phạt Lê Thị U từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 BLHS xử phạt Lê Nguyễn C1 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- - Do không xác định được tài sản cũng như thu nhập tài chính của bị cáo nên không đề nghị phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 BLHS.
- - Đối với chị Lê Thị Thu T (SN: 1996; trú tại: phòng E Chung cư S, phường T, quận S, TP.Đà Nẵng): Là chị ruột của Lê Nguyễn C1, chủ sở hữu của xe mô tô hiệu SH150 màu trắng mang BKS 43E1-569.05. Ngày 21/11/2024, chị T để xe mô tô và chìa khoá ở nhà nên C1 tự ý lấy đi. Việc C1 sử dụng xe này để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý chị T không biết nên Cơ quan CSĐT Công an quận S không đề cập xử lý hình sự đối với chị T là có căn cứ.
- - Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý Uyên và C1, Công an quận S ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
- - Đối với đối tượng tên D (người đã bán ma tuý cho U), H4, S (người mua ma tuý của U và C1): Hiện không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận S tiếp tục xác minh, xử lý sau là có căn cứ.
- * Xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS đề nghị Hội đồng xét xử :
- Tịch thu tiêu huỷ: 03 bì giấy ký hiệu C, C1, C2 đựng mẫu hoàn trả và toàn bộ bao gói mẫu có đóng dấu Phòng K Công an thành phố Đ, chữ ký giám định viên và cán bộ điều tra; 01 vỏ thuốc lá hiệu “White Horse” của C1 dùng để đựng ma tuý; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (gồm ống hút nhựa, chai nhựa, ống thuỷ tinh) của C1; sim số: 0766799391và 039962356 của U, C1 dùng để liên hệ mua bán trái phép chất ma tuý.
- - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh đen, số Imeil: 866855069826873; 01 điện thoại di động hiệu Horno màu xanh, số Imeil: 868355061510896 của U, C1 dùng để mua bán trái phép chất ma tuý; 250.000 đồng tiền bán ma tuý thu giữ của U.
- - Truy thu số tiền: 700.000 đồng tiền bán trái phép chất ma tuý của U cho đối tượng tên H4; 200.000 đồng tiền công U trả cho C1 do giúp U mua bán trái phép chất ma tuý.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tội danh : Xét lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Để có tiền tiêu xài cá nhân, Lê Thị U đã rủ Lê Nguyễn C1 cùng nhau thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời. Vào ngày 21/11/2024, tại phòng E Chung cư S, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng, U và C1 đã 02 lần bán ma túy cho người khác. Ngoài ra, U và C1 còn cất giấu 1,326 gam ma túy loại Methaphetamine nhằm mục đích bán lại cho người khác nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi phạm tội của các bị cáo Lê Thị U và Lê Nguyễn C1 đã đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Như vậy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng truy tố các bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội.
[3]Xét thấy tính chất vụ án thì thấy: Ma tuý tổng hợp là loại độc chất, có tính chất gây nghiện, có hại cho sức khoẻ và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội do đó bị Nhà nước cấm tự do mua bán, tàng trữ, sử dụng nhưng các bị cáo vì mục đích siêu lợi nhuận từ việc mua bán ma túy và vì coi thường pháp luật đã cố tình vi phạm. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, cần phải có mức hình phạt thích đáng, xử cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là hết sức cần thiết để răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung. Trong vụ án này, các bị cáo tham gia bán ma túy không có sự bàn bạc, phân công vai trò của từng bị cáo mà phạm tội mang tính tự phát, nên vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn.
Về vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy:
Lê Thị U là người giữ vai trò chính, bị cáo là người nảy sinh ý định mua ma túy về bán lại kiếm lời nên rủ C1 cùng thực hiện. Bị cáo là người liên hệ với người có tài khoản Telegram tên “ D” để mua ma túy, bị cáo cũng chính là người quyết định việc bán ma túy cho các đối tượng khác để thu lợi và trả tiền công cho bị cáo C1. Tổng lượng ma túy bị cáo phải chịu trách nhiệm trong vụ án này là 1,326 gam Methaphetamine. Bản thân bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, bị cáo có việc làm nhưng lại sa vào con đường bán ma túy làm nguồn sống chính, bị cáo cũng là người nghiện ma túy. Thời điểm bị công an bắt quả tang, kiểm tra ma tuý đối với U vào ngày 21/11/2024 cho kết quả: Uyên dương tính với ma tuý. Theo lời khai của U sử dụng ma tuý đá một mình tại nhà của mình (số E đường V, phường T, quận S, TP .) vào ngày 18/11/2024. Ma tuý U nhờ bạn ngoài xã hội (không rõ lai lịch) mua giúp, đã sử dụng hết. Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý U và C1, Công an quận S ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ. Do đó đối với bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm, cách ly ra ngoài xã hội một thời gian dài để giám sát, giáo dục. Mức án Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục.
Đối với bị cáo Lê Nguyễn C1 là người có tiền sự từng bị UBND phường T xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Trong vụ án này C1 cũng đồng ý việc đi mua ma túy về để bán lại cùng U, và C1 có vai trò người thực hành về việc đi giao ma túy hai lần, và nhận tiền đưa lại cho U. Do đó khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt C1 một mức án tương xứng để đảm bảo tính răn đe, giáo dục.
Ngoài hình phạt chính Hội đồng xét xử thấy cần truy thu các khoản thu lợi bất chính đối với từng bị cáo trong vụ án. Cụ thể: Bị cáo Lê Nguyễn C1 số tiền 200.000 đồng; bị cáo Lê Thị U 750.000 đồng là tiền thu lợi bất chính do việc bán ma túy vào ngày 21/11/2024.
[4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung để phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5]Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tự nguyện khai ra các lần phạm tội trước đó theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, C1 có tham gia nghĩa vụ quân sự (Quyết định cho quân nhân xuất ngũ số 57 ngày 10/01/2020) theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS nên cần xem xét giảm nhẹ một mức hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[6] Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và vấn đề liên quan trong vụ án:
- [6.1]Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Lê Thị Thu T có mặt tại phiên tòa đều xác nhận lời khai của mình trong quá trình điều tra là đúng với diễn biến khách quan của vụ án. Bà Lê Thị Thu T là chị ruột của Lê Nguyễn C1, chủ sở hữu của xe mô tô hiệu SH150 màu trắng mang BKS 43E1-569.05. Ngày 21/11/2024, chị T để xe mô tô và chia khoá ở nhà nên C1 tự ý lấy đi. Việc C1 sử dụng xe này để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý chị T không biết nên Cơ quan CSĐT Công an quận S không đề cập xử lý hình sự đối với chị T là có căn cứ.
- [6.2]Ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma túy các bị cáo Lê Thị U, Lê Nguyễn C1 còn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, kết quả thử test các bị cáo dương tính với ma túy. Do đó Cơ quan Điều tra đã ra Q xử phạt hành chính là có căn cứ. Các bị cáo không có ý kiến, yêu cầu gì, Viện kiểm sát không tiếp tục đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [6.3] Đối với đối tượng tên D (người đã bán ma tuý cho U), H4, S (người mua ma tuý của U và C1): Hiện không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận S tiếp tục xác minh, xử lý sau là có căn cứ.
[7] Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS, Hội đồng xét xử thấy cần tuyên:
- [7.1]Tịch thu tiêu hủy: 03 bì giấy ký hiệu C, C1, C2 đựng mẫu hoàn trả và toàn bộ bao gói mẫu có đóng dấu Phòng K Công an thành phố Đ, chữ ký giám định viên và cán bộ điều tra; 01 vỏ thuốc lá hiệu “White Horse”; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (gồm ống hút nhựa, chai nhựa, ống thuỷ tinh); sim số: 0766799391và 039962356. Các vật chứng trên là ma túy, dụng cụ liên quan đến việc cân, phân chia ma túy và bao gói vỏ hoàn trả sau giám định, sim số các dùng để liên hệ mua bán ma túy nay xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- [7.2]Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh đen, số Imeil: 866855069826873; 01 điện thoại di động hiệu Horno màu xanh, số Imeil: 868355061510896, số tiền 250.000 đồng. Do các vật chứng trên là phương tiện các bị cáo liên lạc để phục vụ mua bán ma túy và tiền do mua bán ma túy, nên cần tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- [7.3] Truy thu số tiền thu lợi bất chính đối với bị cáo Lê Thị U là 750.000 đồng, sau khi trừ đi số tiền 250.000 đồng đã tuyên tịch thu sung công quỹ nêu trên cần tiếp tục truy thu số tiền 500.000 đồng; truy thu đối với bị cáo C1 số tiền thu lợi 200.000 đồng.
(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/2/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận S và Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng).
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Thị U, Lê Nguyễn C1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1/ Căn cứ vào: điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51,Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Lê Thị U 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/11/2024.
Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) thu lợi bất chính để sung vào công quỹ Nhà nước.
2/ Căn cứ vào: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Lê Nguyễn C1 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/11/2024.
Buộc bị cáo C1 phải nộp lại số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) thu lợi bất chính để sung vào công quỹ Nhà nước.
3/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- * Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 03 bì giấy ký hiệu C, C1, C2 đựng mẫu hoàn trả và toàn bộ bao gói mẫu có đóng dấu Phòng K Công an thành phố Đ, chữ ký giám định viên và cán bộ điều tra; 01 vỏ thuốc lá hiệu “White Horse”; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (gồm ống hút nhựa, chai nhựa, ống thuỷ tinh); sim số: 0766799391và 039962356.
- * Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh đen, số Imeil: 866855069826873; 01 điện thoại di động hiệu Horno màu xanh, số Imeil: 868355061510896; số tiền 250.000 đồng.
(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/2/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận S và Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng).
8/ Về án phí: Áp dụng quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Buộc các bị cáo mỗi bị cáo Lê Thị U, Lê Nguyễn C1 phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
9/ Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Trần Thị Linh Phương |
Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 06/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo có hành vi mua bán trái phép chất ma túy
