|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày 18 - 02 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Khắc Chiến.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Văn Vợi và bà Phạm Thị Kim Quy
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Oanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Đàn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Phan Văn C, sinh ngày 20 tháng 6 năm 1990 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị H1; có vợ Nguyễn Thu H2 và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13 tháng 11 năm 2024 đến ngày 22 tháng 11 năm 2024; có mặt.
2. Phan Văn C1, sinh ngày 10 tháng 4 năm 1988 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn N và bà Nguyễn Thị L; có vợ Nguyễn Thị Mỹ L1 và 03 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 18 tháng 4 năm 2011 bị Tòa án nhân dân Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Trần Văn N1, sinh năm 1977; nơi cư trú: Xóm H, xã X, huyện Y, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- + Anh Phan Lễ Q, sinh năm 1980; nơi cư trú: Xóm T, xã Q, huyện Y, tỉnh Nghệ An; vắng mặt;
- + Anh Thái Hữu L2, sinh năm 1995; nơi cư trú: Xóm N, xã X, huyện Y, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- + Anh Bùi Hồng N2, sinh năm 1983; nơi cư trú: Xóm T, xã Q, huyện Y, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 10 năm 2024, do có nhu cầu sử dụng pháo nổ vào dịp tết Nguyên đán, Phan Văn C sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMAX màu vàng gắn số thuê bao 0988756355 đăng nhập ứng dụng Messenger sử dụng tài khoản “P” liên lạc với tài khoản “Phan Cuong” của Phan Văn C1 để nhờ mua pháo thì C1 đồng ý. Sau đó, C1 liên hệ với một người đàn ông không quen biết có tài khoản Z tên “Quốc H3” để hỏi mua pháo, người đàn ông này báo giá cho C1 pháo loại 49 quả 830.000 đồng/1 cối, còn 36 quả 780.000 đồng/1 cối. Sau đó, C1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A71 màu xanh số thuê bao 0986525286 gọi cho C báo giá 830.000 đồng/1 cối loại 49 quả thì C đồng ý và nói với C1 lấy 10 cối pháo loại 49 quả. Đến ngày 07 tháng 11 năm 2024, Phan Văn C chuyển khoản số tiền 5.500.000 đồng từ tài khoản 5120852664 ngân hàng BIDV của mình đến số tài khoản 868989999 ngân hàng N3 của Phan Văn C1 và nói với C1 “Anh gửi trước 5.500.000 đồng, khi nào hàng về anh chuyển tiếp”. Sau khi nhận tiền, C1 gọi cho người đàn ông bán pháo để đặt mua 10 cối pháo loại 49 quả thì người đàn ông này đồng ý. Đến khoảng 06 giờ ngày 12 tháng 11 năm 2024, người đàn ông bán pháo gọi cho C1 và hẹn giao hàng tại bờ đập N, thuộc xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; đồng thời hỏi bán thêm cho C1 hai bịch pháo bi, với giá 500.000 đồng/1 bịch. C1 gọi điện hỏi ý kiến C, C đồng ý lấy 02 bịch pháo bi nên C1 báo lại cho bên bán để lấy thêm 02 bịch pháo bi. Sau đó C1 đến bờ đập Nhân C2, được người đàn ông bán pháo đưa cho C1 01 thùng xốp màu vàng, bên trong có 10 cối pháo loại 49 quả và 02 bịch pháo bi. Sau khi kiểm tra thấy đúng số pháo mình đã đặt mua thì C1 đưa cho người đàn ông này số tiền 9.300.000 đồng rồi đưa thùng xốp chứa pháo đi đến ngã 3 N, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông đợi xe khách, C1 dùng bút lông viết lên nắp thùng xốp đựng pháo nội dung “A C3 chợ Rộc 0988756355” rồi gửi thùng chứa pháo trên cho nhà xe Q1, biển số 61B-028.32 để gửi về cho C3 tại Nghệ An.
Đến khoảng 06 giờ 40 phút ngày 13 tháng 11 năm 2024, khi xe khách Quang Khanh biển số 61B-028.32 đi đến Km18+400, đường Q (thuộc xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An) thì bị tổ công tác công an huyện N phối hợp với tổ tuần tra Cảnh sát giao thông (thuộc phòng C4, công an tỉnh N) tiến hành dừng xe và yêu cầu lái xe điều khiển xe đến trụ sở Công an huyện N để tiến hành kiểm tra. Tại trụ sở công an huyện N, phát hiện trong khoang hành lý xe khách biển số 61B-028.32 có 01 thùng xốp màu vàng, bên ngoài thùng ghi “A Châu chợ Rộc 0988756355” bên trong có 10 khối pháo hình hộp chữ nhật có kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài có nhiều hoa văn, họa tiết, chữ nước ngoài có tổng khối lượng là 16,648 kg và 02 túi nilong bên trong có chứa các quả pháo hình cầu, màu sắc khác nhau, đường kính 2,5cm, có tổng khối lượng là 0,858 kg. Tổng khối lượng số pháo nêu trên là 17,506 kg.
Tại bản kết luận giám định số 410/KL-KTHS (Đ2-CN) ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu vật (ký hiệu M6 và M7) thu giữ của Phan Văn C gửi tới giám định đều là pháo, đều thuộc loại pháo nổ”.
Bản Cáo trạng số 13/CT-VKS-NĐ ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố Phan Văn C, Phan Văn C1 về tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, Nghệ An giữ quyền công tố, luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phan Văn C từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
Áp dụng vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phan Văn C1 từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị: Tịch thu, tiêu hủy: 01 thùng xốp màu vàng được niêm phong, bên trong thùng xốp có 03 khối hình hộp chữ nhật có tổng khối lượng 5,013 kg và vỏ giấy niêm phong ban đầu; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone XSMAX màu vàng đồng thu giữ của Phan Văn C và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A71 màu xanh của Phan Văn C1.
Tại phiên tòa, các bị cáo Phan Văn C, Phan Văn C1 nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh, khung hình phạt:
Tại phiên tòa, các bị cáo Phan Văn C, Phan Văn C1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng được thu giữ và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở để kết luận: Trong các ngày 12 và ngày 13 tháng 11 năm 2024, Phan Văn C và Phan Văn C1 đã mua trái phép 17,506 kg pháo nổ nhằm mục đích sử dụng; sau đó, Phan Văn C và Phan Văn C1 đã bàn bạc, thống nhất gửi 17,506 kg pháo nổ trên vào xe khách để vận chuyển từ xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông về Chợ R, huyện Y, tỉnh Nghệ An, khi xe về đến thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An thì bị Công an huyện N phát hiện.
Như vậy, hành vi của các bị cáo Phan Văn C, Phan Văn C1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt chính: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước về một số hàng cấm, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo nhằm mục đích giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung. Vụ án có đồng phạm, các bị cáo đã có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ khi thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Phan Văn C là người khởi xướng, chi trả tiền để thực hiện việc mua pháo. Bị cáo Phan Văn C1 là người thực hành tích cực, trực tiếp liên hệ mua pháo, gửi pháo để vận chuyển từ tỉnh Đắk Nông về tỉnh Nghệ An; năm 2011 bị cáo C1 bị kết án về tội trộm cắp tài sản. Vì vậy, hai bị cáo phải chịu hình phạt ngang nhau trong vụ án này.
Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đó là: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải (Điểm s khoản 1); sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, các bị cáo đều đã tự nguyện đầu thú (khoản 2); bị cáo Phan Văn C phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (điểm i khoản 1), bị cáo có nhân thân tốt; Bị cáo Phan Văn C1 đã từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng đã được xóa án tích từ lâu. Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đủ nghiêm.
[4] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 4 Điều 191 của Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng...”. Xét thấy, các bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, xét thấy:
- - 03 khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài mỗi khối có nhiều hoa văn, họa tiết, chữ nước ngoài có tổng khối lượng 5,013 kg (là vật chứng còn lại thu giữ của Phan Văn C và Phan Văn C1 sau khi lấy mẫu đi giám định) là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- - 01 thùng xốp màu vàng được các bị cáo sử dụng để chứa pháo nổ và các vỏ giấy niêm phong ban đầu là vật chứng không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- - 01 điện thoại di động Iphone XSMAX màu vàng đồng gắn thẻ sim số thuê bao 0988756355 thu giữ của Phan Văn C và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A71 màu xanh gắn thẻ sim số thuê bao 0986525286 thu giữ của Phan Văn C1. Đây là công cụ các bị cáo sử dụng để liên lạc, trao đổi về việc mua, vận chuyển pháo nổ. Vì vậy, cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
[6] Trong vụ án này, có người đàn ông có tài khoản Z “Quốc Hải” đã bán pháo nổ cho Phan Văn C1. Tuy nhiên, quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N chưa xác định được lai lịch nên chưa có đủ căn cứ để xử lý, cần tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.
[7] Đối với anh Trần Văn N1, anh Phan Lễ Q, anh Thái Hữu L2, anh Bùi Hồng N2là lái xe và phụ xe của xe khách Quang K, biển số 618-028.32, đã vận chuyển pháo nổ. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định những người này không biết việc Phan Văn C1 gửi hàng lên xe khách là pháo nổ nên không có căn cứ để xử lý.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[9] Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Phan Văn C, Phan Văn C1 phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phan Văn C 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phan Văn C cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phan Văn C1 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phan Văn C1 cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã N trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 thùng xốp màu vàng được niêm phong, bên trong thùng xốp có 03 khối hình hộp chữ nhật có tổng khối lượng 5,013 kg; vỏ giấy niêm phong ban đầu. (Vật chứng này hiện đang lưu trữ tại kho vật chứng thuộc Công an huyện N theo Phiếu nhập kho vật chứng số 380/PNK ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Công an huyện N).
- - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone XSMAX màu vàng đồng gắn thẻ sim số thuê bao 0988.856.355 thu giữ của Phan Văn C và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A71 màu xanh gắn thẻ sim số thuê bao 0986.525.286 thu giữ của Phan Văn C1. (Vật chứng này hiện đang lưu trữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An và có tình trạng, đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23 tháng 01 năm 2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).
5. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội; buộc các bị cáo Phan Văn C và Phan Văn C1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Khắc Chiến |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
||
|
Cao Khắc Chiến |
7
Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
- Số bản án: 06/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Van C và Phan Văn C1 phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
