Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN MỸ TÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/DS - ST.

Ngày: 18 - 02 - 2025.

“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Duy Tân.
  2. Ông Lê Hoàng Điệt.

Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 135/2024/TLST - DS, ngày 04 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-DS, ngày 02 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S, địa chỉ: Số B, N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại cổ phần S: Ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1994, địa chỉ: Lầu F, số B, đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền (Vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt).

  2. Bị đơn: Ông Trương Văn D, sinh năm 1980, địa chỉ: ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện lập ngày 17/11/2023, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S trình bày: Ngày 22/05/2020, ông D có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông D, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 15,000,000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông D đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 14,900,000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông D đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 10,753,000 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông D vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông D vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 23/09/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Tính đến ngày 18/02/2025, ông D còn nợ tổng cộng: 37.787.324 đồng (Ba mươi bảy triệu bảy trăm tám mươi bảy nghìn ba trăm hai mươi bốn đồng). Trong đó, số tiền gốc là 17.624.764 đồng (Mười bảy triệu sáu trăm hai mươi bốn nghìn bảy trăm sáu mươi bốn đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 18/02/2025 là 20.162.560 đồng (Hai mươi triệu một trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm sáu mươi đồng).

Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông D có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông D vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.

Nay ngân hàng yêu cầu:

  1. Buộc ông Trương Văn D phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 18/02/2025 là 37.787.324 đồng (Ba mươi bảy triệu bảy trăm tám mươi bảy nghìn ba trăm hai mươi bốn đồng). Trong đó, số tiền gốc là 17.624.764 đồng (Mười bảy triệu sáu trăm hai mươi bốn nghìn bảy trăm sáu mươi bốn đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 18/02/2025 là 20.162.560 đồng (Hai mươi triệu một trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm sáu mươi đồng).
  2. Ông Trương Văn D có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 17/10/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

- Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn ông Trương Văn D không có ý kiến hay văn bản trả lời cho Tòa án.

- Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định, bị đơn không chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 91, khoản 1 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

Buộc bị đơn ông Trương Văn D có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền là 37.787.324 đồng (Ba mươi bảy triệu bảy trăm tám mươi bảy nghìn ba trăm hai mươi bốn đồng). Trong đó, số tiền gốc là 17.624.764 đồng (Mười bảy triệu sáu trăm hai mươi bốn nghìn bảy trăm sáu mươi bốn đồng)và tiền lãi tạm tính đến ngày 18/02/2025 là 20.162.560 đồng (Hai mươi triệu một trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm sáu mươi đồng).

Kể từ ngày 19/02/2025 ông Trương Văn D còn phải tiếp tục trả lãi quá hạn trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa ông Trương Văn D với Ngân hàng Thương mại cổ phần S cho đến khi trả hết nợ.

Ngoài ra, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Ông Trương Văn D mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Trương Văn D.

[2]. Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn ông Trương Văn D có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc là 17.624.764 đồng (Mười bảy triệu sáu trăm hai mươi bốn nghìn bảy trăm sáu mươi bốn đồng), Hội đồng xét xử thấy rằng: Để chứng minh cho việc bị đơn ông Trương Văn D có vay vốn, Ngân hàng cung cấp cho Tòa án chứng cứ là Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 22/5/2020 có chữ ký của ông Trương Văn D và các giấy tờ khác có liên quan. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông D đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 14.900.000 đồng (Mười bốn triệu chín trăm nghìn đồng); Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông D đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 10.753.000 đồng (Mười triệu bảy trăm năm mươi ba nghìn đồng). Xét thấy, về hình thức, nội dung các văn bản này là phù hợp theo quy định của pháp luật nên được thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia có các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký; đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông Trương Văn D biết nhưng ông Trương Văn D không có ý kiến phản đối gì. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Hợp đồng khẳng định ông Trương Văn D theo thứ tự thanh toán tại Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ông D vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông D vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 23/09/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn tại Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng và chuyển sang dư nợ tại thời điểm này thành dư nợ gốc là 17,624,764 đồng (Mười bảy triệu sáu trăm hai mươi bốn nghìn bảy trăm sáu mươi bốn đồng) là có căn cứ. Do đó, việc ông Trương Văn D không thực hiện nghĩa vụ trả tiếp dư nợ gốc và lãi theo giao kết trong hợp đồng đã vi phạm hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết, ông Trương Văn D là người có lỗi, là người vi phạm hợp đồng nên phải chịu mọi hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Vì vậy, việc nguyên đơn Ngân hàng yêu cầu bị đơn ông Trương Văn D phải trả cho Ngân hàng số tiền vay gốc còn nợ là 17.624.764 đồng (Mười bảy triệu sáu trăm hai mươi bốn nghìn bảy trăm sáu mươi bốn đồng) là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 22/5/2020 giữa Ngân hàng và ông Trương Văn D đã giao kết mức lãi suất là 2,6%/tháng; Lãi suất nợ gốc quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn từ ngày Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại. Xét thấy, đối với khoản tiền lãi suất theo sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng là 2,6%/tháng, cao hơn so với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng thì Ngân hàng là một trong những hình thức tổ chức tín dụng và được điều chỉnh bởi Luật các tổ chức tín dụng nên giữa Ngân hàng và ông Trương Văn D thỏa thuận mức lãi suất theo hợp đồng tín dụng là có căn cứ. Do đó, mức lãi suất của hợp đồng các bên đã ký kết là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên bị đơn phải có nghĩa vụ trả lãi cho nguyên đơn theo hợp đồng đã giao kết. Việc bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả tiếp dư nợ gốc và lãi theo giao kết trong hợp đồng đã vi phạm hợp đồng cho vay mà các bên đã ký kết, bị đơn là người có lỗi và là người vi phạm hợp đồng nên phải chịu mọi hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Như vậy, ông Trương Văn D phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền lãi theo giao kết của hợp đồng tạm tính đến ngày 18/02/2025 với số tiền lãi quá hạn là 20.162.560 đồng (Hai mươi triệu một trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm sáu mươi đồng) là có căn cứ, phù hợp với nội dung thỏa thuận về việc trả nợ gốc lãi, chuyển nợ quá hạn, tính lãi tiền vay, phí tại hợp đồng tín dụng đã ký kết nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Như vậy, bị đơn ông Trương Văn D có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn tổng cộng số tiền là 37.787.324 đồng (Ba mươi bảy triệu bảy trăm tám mươi bảy nghìn ba trăm hai mươi bốn đồng). Trong đó, số tiền gốc là 17.624.764 đồng (Mười bảy triệu sáu trăm hai mươi bốn nghìn bảy trăm sáu mươi bốn đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 18/02/2025 là 20.162.560 đồng (Hai mươi triệu một trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm sáu mươi đồng) và kể từ ngày 19/02/2025, ông Trương Văn D còn phải tiếp tục trả lãi quá hạn trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng cấp tín dụng đã ký kết giữa ông Trương Văn D với Ngân hàng cho đến khi trả hết nợ.

[4]. Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị đơn phải chịu 1.889.366 đồng (Một triệu tám trăm tám mươi chín nghìn ba trăm sáu mươi sáu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 91, khoản 1 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

  1. [1]. Buộc bị đơn ông Trương Văn D có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền là 37.787.324 đồng (Ba mươi bảy triệu bảy trăm tám mươi bảy nghìn ba trăm hai mươi bốn đồng). Trong đó, số tiền gốc là 17.624.764 đồng (Mười bảy triệu sáu trăm hai mươi bốn nghìn bảy trăm sáu mươi bốn đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 18/02/2025 là 20.162.560 đồng (Hai mươi triệu một trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm sáu mươi đồng).

    Kể từ ngày 19/02/2025 ông Trương Văn D còn phải tiếp tục trả lãi quá hạn trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa ông Trương Văn D với Ngân hàng Thương mại cổ phần S cho đến khi trả hết nợ.

  2. [2]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bị đơn ông Trương Văn D phải chịu 1.889.366 đồng (Một triệu tám trăm tám mươi chín nghìn ba trăm sáu mươi sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí là 663.438 đồng (Sáu trăm sáu mươi ba nghìn bốn trăm ba mươi tám đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011761, ngày 01/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. [3]. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.
  4. [4]. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Duy T – L

Dương Thị Thanh H

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/DS - ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 06/2025/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger