|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17/02/2025 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Toàn;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Ngát;
2. Ông Phạm Xuân Hùng;
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Đức - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 44/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QÐST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐHPT- ST ngày 17 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị U, sinh năm 1981;
- Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc M, sinh năm 1977;
Cùng thường trú tại: Thôn T, xã T, huyện S, Bắc Giang.
(bà U có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông M vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo có trong hồ sơ nguyên đơn bà Nguyễn Thị U trong quá trình tham gia tố tụng trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà kết hôn với ông Nguyễn Quốc M vào tháng 10/1997, trước khi kết hôn hai bên có được tự do tìm hiểu, tự nguyện lấy nhau, được hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương, sau có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang năm 2001; sau ngày cưới bà về nhà ông M ở làm dâu luôn, tình cảm vợ chồng hoà thuận hạnh phúc.
Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ cuối năm 2023, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, bảo nhau không ai nghe ai nên vợ chồng hay cãi nhau nhiều lần. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 7 năm 2024 đến nay, không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà và ông M được ly hôn nhau.
Về con chung: Bà và ông M có 02 con chung là cháu Nguyễn Quốc T, sinh năm 1998 và cháu Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 2004. Hiện nay các cháu đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra bà không có yêu cầu gì khác.
[2] Bị đơn ông Nguyễn Quốc M hiện không có mặt tại nơi cư trú, Tòa án giao cho gia đình ông M và niêm yết tại địa phương thông báo về việc thụ lý vụ án, các giấy triệu tập, thông báo phiên họp và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử để ông M biết đến làm việc tại Tòa án nhưng ông M vẫn vắng mặtoHoaf vẫn v, nên Tòa án không thu thập được lời khai của ông M.
[3] Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm;
Về tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục phiên tòa sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông M vắng mặt không chấp hành đến Tòa án để giải quyết vụ án là vi phạm về nghĩa vụ.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, 35, 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 147, 271, 273 và 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị U và ông Nguyễn Quốc M được ly hôn nhau.
Về con chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: bà Nguyễn Thị U phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị U khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Sơn Động giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Quốc M, ông M hiện đang cư trú tại huyện S. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà U có đơn xin xét xử vắng mặt; ông M vắng mặt không có lý do; Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà U, ông M theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Căn cứ vào lời khai của các bên đương sự, tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp và những tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được thì có cơ sở xác định:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị U và ông Nguyễn Quốc M kết hôn với nhau vào tháng 10/1997, trước khi kết hôn hai bên có được tự do tìm hiểu, tự nguyện lấy nhau, được hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương, sau có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang số 50 ngày 18/9/2001; sau ngày cưới bà U về nhà ông M ở làm dâu luôn, tình cảm vợ chồng hoà thuận hạnh phúc. Xác nhận quan hệ hôn nhân giữa bà U và ông M là hợp pháp.
Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ cuối năm 2023, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, bảo nhau không ai nghe ai nên vợ chồng hay cãi nhau nhiều lần. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 7 năm 2024 đến nay, không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Nay bà Minh xác Đ tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà và ông M được ly hôn nhau.
Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình”.
Xét thấy, bà U và ông M sống ly thân thời gian dài mà mâu thuẫn không hòa giải được; bà U, ông M đã vi phạm nghĩa vụ chung sống vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà U, cho bà U và ông M được ly hôn nhau theo khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà U và ông M có 02 con chung là Nguyễn Quốc T, sinh năm 1998 và Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 2004. Hiện nay anh T và chị N đã trưởng thành; do đó HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị U phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 và 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ, phí Tòa án, xử:
[1] Cho bà Nguyễn Thị U và ông Nguyễn Quốc M được ly hôn nhau.
[2] Về con chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị U phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng bà U đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, theo Biên lai thu số 0005359 ngày 30 tháng 9 năm 2024 (xác nhận bà U đã nộp xong tiền án phí).
[4] Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Toàn |
Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 17/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị U và ông Nguyễn Quốc M kết hôn với nhau vào tháng 10/1997, trước khi kết hôn hai bên có được tự do tìm hiểu, tự nguyện lấy nhau, được hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương, sau có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang số 50 ngày 18/9/2001; sau ngày cưới bà U về nhà ông M ở làm dâu luôn, tình cảm vợ chồng hoà thuận hạnh phúc. Xác nhận quan hệ hôn nhân giữa bà U và ông M là hợp pháp. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ cuối năm 2023, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, bảo nhau không ai nghe ai nên vợ chồng hay cãi nhau nhiều lần. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 7 năm 2024 đến nay, không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Nay bà Minh xác Đ tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà và ông M được ly hôn nhau.
