|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày 17 - 02 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đoàn Phước Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Sơn Thanh Bình.
Bà Sơn Thị Vành Đa.
Thư ký phiên toà: Ông Lê Thanh Quốc - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Ông Trần Minh Chiến, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn K, T gọi khác: B1, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2006, tại huyện P, tỉnh Bạc Liêu; Nơi cư trú: Ấp T, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G và bà Lê Thị T1; A, chị, em ruột có 02 người, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất là bị cáo; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án: Không, Tiền sự: Không.
Bị khởi tố ngày 16 tháng 01 năm 2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 16 tháng 01 năm 2024 đến ngày 08 tháng 02 năm 2024 nhưng bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 03 tháng 9 năm 2024 thì bị bắt tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Vĩnh P, là Luật sư của Văn phòng Luật sư Nguyễn Vĩnh P thuộc Đoàn Luật sư tỉnh S (có mặt).
Địa chỉ liên hệ: Ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị hại:
- Ông Võ Hùng C, sinh năm 1966 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
- Ông Bùi Văn C1, sinh năm 1969 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
Nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Giữa bị cáo Nguyễn Văn K, anh ruột của bị cáo K là Nguyễn Văn N và Phan Văn T2 có mối quan hệ bạn bè với nhau.
Vào đêm ngày 04/12/2023 rạng sáng ngày 05/12/2023, Phan Văn T2 chủ động bàn bạc và rủ rê bị cáo Nguyễn Văn K và Nguyễn Văn N cùng đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân thì bị cáo K và N đồng ý đi. Cả 03 người đi bộ từ nhà của T2 dọc theo tuyến lộ đal thuộc ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng tìm kiếm tài sản để trộm, khi đi đến nhà của ông Võ Hùng C, sinh ngày 01/01/1966 và ông Bùi Văn C1, sinh ngày 26/03/1969, cùng đăng ký thường trú tại ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (hai nhà cạnh nhau), thì 03 người phát hiện có 03 chiếc xe mô tô gồm: 01 xe mô tô Wave màu đỏ, biển kiểm soát 63R1-0673, 01 xe mô tô Wave màu xanh biển kiểm soát 64B1-67299 của ông C và 01 xe mô tô Future Trung Quốc biển kiểm soát 95U1-1755 của ông C1 đang đậu trước nhà không khóa cửa. Lúc này bị cáo K vào nhà ông Bùi Văn C1 lấy trộm xe mô tô biển kiểm soát 95U1-1755 dẫn ra ngoài sân và đưa lại cho Nguyễn D đi ra lộ, sau khi đưa xe cho N thì bị cáo K tiếp tục vào nhà ông Võ Hùng C lấy trộm xe mô tô biển kiểm soát xe 64B1- 672.99, đồng thời Phan Văn T2 lấy trộm xe mô biển kiểm soát 63R1-0673 (hai xe dựng cạnh nhau) cùng nhau dẫn ra lộ, cả 03 (ba) người lần lượt dẫn 03 xe mô tô vừa trộm được ra lộ đal cách hiện trường khoảng 300 đến 400 mét thì khởi động máy để tẩu thoát, tuy nhiên do xe mô tô biển kiểm soát 95U1-1755 không có chìa khóa nên không khởi động được nên T2 kêu Nguyễn bỏ lại. Sau đó, N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 64B1-672.99 và T2 chở bị cáo K bằng xe mô tô biển kiểm soát 63R1-0673 tẩu thoát. Khi đi đến địa phận thành phố Cần Thơ, Nguyễn bị Công an thành phố C chặng lại kiểm tra thì N khai nhận đã lấy trộm xe ở xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng nên Công an thành phố C đã đưa N cùng tang vật bàn giao cho Công an xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng để xác minh, điều tra làm rõ. Riêng T2 và bị cáo K bỏ trốn đến Thành phố Hồ Chí Minh.
Đến ngày 21/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng đã tiến hành làm việc với bị cáo Nguyễn Văn K, qua lấy lời khai bị cáo K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đến ngày 10/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng đã tiến hành làm việc với Phan Văn T2, qua lấy lời khai T2 cũng đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 46/KL-HĐDGTS, ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự năm 2023 thuộc UBND huyện M kết luận:
- - 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 63R1-0673, nhãn hiệu Honda số loại Wave RSX màu sơn đỏ - đen mua xe cũ vào tháng 6/2022 với giá 6.000.000 đồng;
- + Giá khảo sát xe đã qua sử dụng: 5.200.000 đồng;
- + Thành tiền: 5.200.000 đồng.
- - 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 64B1-672.99, nhãn hiệu ORIENTAL, loại SD110 xe wave Trung Quốc màu sơn xanh mua xe cũ vào ngày 11/7/2018 với giá 6.000.000 đồng;
- + Giá khảo sát xe đã qua sử dụng: 3.000.000 đồng;
- + Thành tiền: 3.000.000 đồng.
- - 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 95U1-1755, nhãn hiệu DAMSEL, loại Future Trung Quốc màu sơn đen - xám mua xe cũ vào tháng 12/2017 với giá 3.000.000 đồng;
- + Giá khảo sát xe đã qua sử dụng: 1.600.000 đồng;
- + Thành tiền: 1.600.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản của 03 (ba) chiếc xe mô tô nêu trên được định giá là 9.800.000 đồng (chín triệu tám trăm nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản mà bị cáo Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn N và Phan Văn T2 đã chiếm đoạt là 9.800.000 đồng.
- Tại Cáo trạng số: 46/CT-VKS-MT ngày 14 tháng 11 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tại phiên tòa sơ thẩm:
Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn K. Phát biểu luận tội, Kiểm sát viên phân tích tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội, cũng như nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo K, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Khoản 3 Điều 54; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo mức án từ 03 (ba) tháng đến 05 (năm) tháng 18 (mười tám) ngày tù.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại ông Võ Hùng C, ông Bùi Văn C1 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng đã xử lý xong nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Bị cáo Nguyễn Văn K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với Cáo trạng, thống nhất với luận tội của đại diện Viện kiểm sát cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K mức hình phạt trong khung hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị.
Trong quá trình điều tra, các bị hại ông Võ Hùng C, ông Bùi Văn C1 đều không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, đều đề nghị xử lý trách nhiệm hình sự của bị cáo K theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại nên các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị hại ông Võ Hùng C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị hại ông Bùi Văn C1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do. Xét thấy, việc vắng mặt những người này không gây cản trở cho việc xét xử, quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra cũng đã tiến hành lấy lời khai của họ nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt đối với các bị hại ông Võ Hùng C, ông Bùi Văn C1.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Xét thấy, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận rằng: Vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo Nguyễn Văn K cùng với Nguyễn Văn N và Phan Văn T2 đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông Võ Hùng C 01 xe mô tô biển kiểm soát 63R1-0673, 01 xe mô tô biển kiểm soát 64B1-672.99 và 01 xe mô tô biển kiểm soát 95U1-1755 của ông Bùi Văn C1.
[4] Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 46/KL-HĐDGTS, ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự năm 2023 thuộc UBND huyện M kết luận:
- - 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 63R1-0673, nhãn hiệu Honda số loại Wave RSX màu sơn đỏ - đen mua xe cũ vào tháng 6/2022 với giá 6.000.000 đồng;
- + Giá khảo sát xe đã qua sử dụng: 5.200.000 đồng;
- + Thành tiền: 5.200.000 đồng.
- - 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 64B1-672.99, nhãn hiệu ORIENTAL, loại SD110 xe wave Trung Quốc màu sơn xanh mua xe cũ vào ngày 11/7/2018 với giá 6.000.000 đồng;
- + Giá khảo sát xe đã qua sử dụng: 3.000.000 đồng;
- + Thành tiền: 3.000.000 đồng.
- - 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 95U1-1755, nhãn hiệu DAMSEL, loại Future Trung Quốc màu sơn đen - xám mua xe cũ vào tháng 12/2017 với giá 3.000.000 đồng;
- + Giá khảo sát xe đã qua sử dụng: 1.600.000 đồng;
- + Thành tiền: 1.600.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản của 03 (ba) chiếc xe mô tô nêu trên được định giá là 9.800.000 đồng (chín triệu tám trăm nghìn đồng).
[5] Bị cáo Nguyễn Văn K là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo lại có hành vi trộm cắp tài sản của người khác, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản người khác được pháp luật bảo vệ và còn gây ảnh hưởng xấu tình hình trật tự tại địa phương. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[6] Như vậy, Cáo trạng số: 46/CT-VKS-MT ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Nguyễn Văn K tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[7] Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn K là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản người khác được pháp luật bảo vệ và còn gây ảnh hưởng xấu tình hình trật tự tại địa phương nên cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hậu quả mà bị cáo đã gây ra để bị cáo có ý thức chấp hành nghiêm Hiến pháp và pháp luật.
[8] Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét toàn diện về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn K như sau: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Nguyễn Văn K có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn tài sản đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu; khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên và có trình độ học vấn thấp nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[9] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Nguyễn Văn K đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tỏ thái độ ăn năn, hối cải, hiện tại bị cáo có thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại ông Võ Hùng C, ông Bùi Văn C1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn K bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[11] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng đã xử lý xong nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[12] Kiểm sát viên đề nghị áp dụng pháp luật về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn K là có căn cứ. Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo K ra khỏi đời sống xã hội trong thời gian hợp lý để giáo dục, cải tạo bị cáo K trở thành công dân tốt, đồng thời để tuyên truyền, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, bị cáo K có 03 (ba) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) như đã nêu trên nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo K thấp hơn khung hình phạt để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước đối với những ai đã lầm lỗi biết ăn năn, hối cải, xử phạt bị cáo K mức hình phạt trong khung hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp. Ngoài ra, tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (ngày 03/9/2024) cho đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/02/2025) thì bị cáo đã bị tạm giam 05 (năm) tháng 18 (mười tám) ngày, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo K mức hình phạt bằng với thời gian bị cáo đã bị tạm giam 05 (năm) tháng 18 (mười tám) ngày, căn cứ khoản 5 Điều 328, Điều 363, Hội đồng xét xử quyết định trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Văn K.
[13] Lời đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn K là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[14] Đối với hành vi phạm tội của Nguyễn Văn N, Phan Văn T2, ngày 28/3/2024 Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã tiến hành xét xử, tuyên phạt Nguyễn Văn N 09 (chín) tháng tù, Phan Văn T2 12 (mười hai) tháng tù giam. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[15] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
[16] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, khoản 3 Điều 54, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- - Điều 292, khoản 5 Điều 328, Điều 362, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K (tên gọi khác: B) phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K (tên gọi khác: Bi) 05 (năm) tháng 18 (mười tám) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03 tháng 9 năm 2024 đến ngày 17 tháng 02 năm 2025. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù. Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Văn K (tên gọi khác: B), nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn K.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại ông Võ Hùng C, ông Bùi Văn C1 đã nhận lại được tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng đã xử lý xong nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đoàn Phước Đạt |
Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 06/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K (tên gọi khác: B) phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K (tên gọi khác: Bi) 05 (năm) tháng 18 (mười tám) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03 tháng 9 năm 2024 đến ngày 17 tháng 02 năm 2025. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù. Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Văn K (tên gọi khác: B), nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
