Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 06/2025/HS-PT

Ngày: 14/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Lâm

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Hiệu

Ông Lê Văn Quân(HC)

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Thị Thanh H - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 07/2025/TLPT-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Lê Bá T, do có kháng cáo của bị cáo Lê Bá T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 73/2024/HS-ST ngày 26 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị cáo có kháng cáo:

Lê Bá T, sinh ngày 15 tháng 9 năm 1980, tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; số CCCD: 038080002071; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Bá T1, sinh năm 1952 và bà Đào Thị L, sinh năm 1953; Có vợ: Lê Thị L1 và 02 con: Nhỏ sinh năm 2015, lớn sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/5/2024 đến ngày 23/5/2024 chuyển tạm giam, đến ngày 18/7/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Từ ngày 18/9/2024 cho đến nay, bị cáo thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ năm 2022, Lê Bá T cùng với Nguyễn Văn Q và Hoàng Văn H1 (là 02 người được T thuê để giúp T trong việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự). Tuyến đã thực hiện hoạt động cho vay lãi bằng hình thức vay tín chấp với mức lãi suất 5.000 đồng/1triệu/1ngày, tương đương với lãi suất 182,5% năm (gấp 9,5 lần) so với mức lãi suất cao nhất (20%/năm) quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Cách thức giao, nhận tiền trong các giao dịch cho vay của Lê Bá T được thực hiện bằng hình thức giao, nhận tiền mặt trực tiếp hoặc qua chuyển khoản ngân hàng. Tuyến sử dụng 01 tài khoản ngân hàng đứng tên Lê Bá T mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q2 (M), số tài khoản 9396886888888. Q sử dụng tài khoản ngân hàng đứng tên Nguyễn Văn Q mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q2 (M1), số tài khoản 0987438555 để giao, nhận tiền với khách vay. H1 nhận tiền mặt trực tiếp của khách vay rồi chuyển lại cho T.

Từ năm 2022 đến tháng 03/2024, với mục đích cho vay tiền với lãi suất cao để thu lợi bất chính, Lê Bá T đã cho anh Lường Công B; anh Lê Hữu Q1; anh Trương Ngọc H2; anh Lê Văn B1; chị Nguyễn Thị S; anh Ngô Quốc H3 vay tiền, hình thức vay tín chấp với mức lãi suất là 5.000đồng/1triệu/1 ngày, tương đương với lãi suất 182,5% năm (gấp 9,5 lần) so với mức lãi suất cao nhất (20%/năm) quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Lê Bá T thuê Nguyễn Văn Q với mức lương 10.000.000đồng/tháng, từ năm 2022 đến ngày Nguyễn Văn Q đến Công an tỉnh T đầu thú về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (14/5/2024). Q giúp T làm hồ sơ cho người vay, nhận tiền từ T và đưa cho người vay, gọi điện thoại giục người vay trả lãi theo thỏa thuận, sau đó thu tiền lãi giúp T và chuyển tiền lãi lại cho T.

Hoàng Văn H1 được Lê Bá T thuê với mức lương từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng/tháng từ năm 2022 đến ngày Hoàng Văn H1 đến Công an tỉnh T đầu thú về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (05/3/2024). Tuyến giao cho H1 làm thủ tục cho khách vay, thống nhất mức lãi suất 5.000đồng/1triệu/1 ngày và định kì 10 ngày/1 lần H1 nhắc lãi và yêu cầu khách vay trả lãi vào tài khoản của T hoặc có lúc đưa tiền mặt cho H1, H1 chuyển lại Tuyến.

Quá trình điều tra xác định được T có hành vi cho vay lãi nặng với những người vay cụ thể như sau:

  1. Đối với anh Lường Công B:
    • + Gói vay 1: Ngày 05/5/2023: Tuyến cho B vay 40.000.000 đồng; H1 trực tiếp làm thủ tục cho anh B vay. Ngày 04/7/2023: anh B trả tiền gốc 20.000.000 đồng; Ngày 05/7/2023, anh B vay lại 20.000.000 đồng, T bảo H1 giao tiền mặt cho anh B, anh B trả lãi qua tài khoản Tuyến hoặc trả tiền mặt đưa cho H1. Ngày 16/12/2023, anh B trả toàn bộ tiền gốc cho T là 40.000.000 đồng. Tổng lãi là 44.000.000 đồng.
    • Anh B vay tổng 40.000.000đ từ ngày 05/5/2023 đến ngày 16/12/2023 là 226 ngày, tổng lãi đã thu thực tế là 44.000.000đ (trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định Điều 468 của Bộ luật dân sự là 40.000.000₫ x 20% : 365 x 226ngày = 4.953.425 đồng), số tiền thu lợi bất chính là 39.046.575 đồng.
    • + Gói vay 2: Số tiền vay: 15.000.000 đồng, T bảo H1 làm thủ tục cho anh B vay; thời gian vay từ 18/12/2023 đến 21/12/2023, thu lãi là 2.250.000 đồng (trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định Điều 468 của Bộ luật dân sự là 15.000.000 x 20% : 365 x 04 ngày = 32.877 đồng), số tiền thu lợi bất chính là 2.217.123 đồng. Anh B chưa trả tiền gốc.
    • Ngày 22/12/2023, anh B tiếp tục vay Tuyến 15.000.000 đồng + 15.000.000 đồng tiền gốc khoản vay trên chưa trả. Thời gian vay từ ngày 22 đến ngày 26/12/2023 là 05 ngày (tổng số tiền gốc gộp lại là 30.000.000đ), lãi thu thực tế là 2.250.000đ, (trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định Điều 468 của Bộ luật dân sự là 30.000.000 x 20% : 365 x 05ngày = 82.192 đồng), số tiền thu lợi bất chính là 2.167.808.đồng. Anh B chưa trả số tiền gốc 30.000.000đ cho T.
    • Ngày 27/12/2023, T tiếp tục cho anh B vay thêm số tiền 20.000.000 đồng, đồng thời cắt lãi trước 10 ngày là 1.000.000 đồng nên chỉ chuyển khoản cho anh B số tiền 19.000.000 đồng.
    • Tính đến ngày 27/12/2023, tổng số tiền gốc mà T cho anh B vay là 50.000.000 đồng, T yêu cầu anh B thanh toán tiền lãi theo chu kỳ 10 ngày trả một lần (hoặc 30 ngày trả một lần). Khi đến kỳ trả lãi thì anh B chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng của T, tuy nhiên ở gói vay này anh B thường xuyên chậm trả lãi và chưa trả đủ tiền lãi theo thỏa thuận.
    • Từ ngày 27/12/2023 đến ngày 14/5/2024, tổng số ngày vay là 140 ngày, số tiền lãi Tuyến đã thu là 17.950.000đ (trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định Điều 468 của Bộ luật dân sự là 50.000.000 x 20% : 365 x 140 ngày =3.835.616 đồng), số tiền thu lợi bất chính là 14.114.384 đồng.
    • Gói vay 2 này, anh B chưa trả số tiền gốc là 50.000.000 đồng cho T, T đã thu 22.450.000 đồng tiền lãi, (tổng tiền lãi tối đa được thu theo quy định của nhà nước là 3.950.685 đồng), tổng số tiền thu lời bất chính 18.499.315 đồng.
    • Trong 02 gói vay trên Lê Bá T đã thu của anh B tổng số tiền lãi là 66.450.000 đồng; tổng số tiền lãi tối đa được thu theo quy định của nhà nước là 8.904.110 đồng; tổng số tiền thu lời bất chính 57.545.890 đồng.
  2. Đối với anh Lê Hữu Q1:
    • + Gói vay 1: Ngày 30/4/2023, Lê Bá T cho anh Q1 vay 20.000.000 đồng. T bảo H1 trực tiếp làm thủ tục cho anh Q1 vay tiền và do T cắt trước tiền lãi 01 tháng nên chỉ đưa cho anh Q1 số tiền 17.000.000 đồng bằng hình thức đưa tiền mặt. Thời gian vay từ ngày 30/4/2023 đến ngày 08/6/2023 là 40 ngày, lãi đã thu là 4.000.000 đồng (trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định Điều 468 của Bộ luật dân sự là 20.000.000 x 20% : 365 x 40 ngày = 438.356 đồng), số tiền thu lợi bất chính là 3.561.644 đồng.
    • Ngày 09/6/2023, anh Q1 vay thêm Tuyến số tiền 20.000.000 đồng. Tuyến gộp cả 02 khoản vay trên để tính lãi với số tiền gốc là 40.000.000 đồng, kể từ ngày 09/6/2023, sau đó T bảo H1 đưa tiền mặt cho anh Q1, tuy nhiên do T cắt lãi trước 10 ngày đối với tổng số tiền gốc vay là 2.000.000 đồng nên chỉ đưa cho anh Q1 số tiền là 18.000.000 đồng. Khi trả lãi thường chuyển khoản cho T hoặc trả tiền trực tiếp cho H1, H1 đưa lại cho T. Đến ngày 10/7/2023, anh Q1 tất toán gói vay này và trả trước cho T số tiền 30.000.000 đồng tiền gốc, đồng thời xin thêm mấy ngày để thanh toán nốt số tiền gốc còn lại (sau khi tất toán thì không tính thêm lãi phí gì nữa).
    • Từ ngày 09/6/2023 đến ngày 10/7/2023, thời gian vay là 32 ngày, T đã thu lãi là 6.500.000 đồng (trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định Điều 468 của Bộ luật dân sự là 40.000.000 x 20% : 365 x 32ngày = 701.370 đồng), số tiền thu lợi bất chính là 5.798.630.đồng.
    • Đến ngày 17/7/2023, anh Q1 trả tiếp số tiền gốc còn nợ lại là 10.000.000 đồng, kết thúc hoàn toàn gói vay.
    • Tổng số tiền lãi mà anh Q1 đã trả cho T trong gói vay này là 10.500.000 đồng. (Tổng tiền lãi tối đa được thu theo quy định của nhà nước là 1.139.726 đồng) tổng số tiền thu lời bất chính là 9.360.274 đồng.
    • + Gói vay 2: Ngày 26/7/2023, T cho anh Q1 vay số tiền 40.000.000đồng, do chưa có sẵn tiền nên lúc đó T chỉ chuyển khoản trước cho anh Q1 số tiền 19.000.000 đồng do đã cắt lãi trước số tiền 1.000.000 đồng, tương ứng với 05 ngày lãi.
    • Q1 vay 20.000.000đ từ ngày 26/7/2023 đến 30/7/2023 là 05 ngày, lãi thu thực tế là 1.000.000đ (trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định Điều 468 của Bộ luật dân sự là 20.000.000 x 20% : 365 x 05 ngày = 54.795đ), số tiền thu lời bất chính là 945.205 đồng.
    • Đến ngày 31/7/2023, T tiếp tục chuyển khoản thêm số tiền 19.000.000 đồng cho anh Q1 do đã cắt lãi trước số tiền 1.000.000 đồng, tương ứng với 05 ngày lãi. Khi đến kỳ trả lãi, anh Q1 thường chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng của T, có ít lần thì trả tiền mặt cho H1 để H1 chuyển lại cho T. Đến ngày 14/5/2024, anh Q1 chưa tất toán gói vay này, chưa trả tiền gốc cho T.
    • Anh Q1 vay 40.000.000 đồng tính từ ngày 31/7/2023 đến 14/5/2024 là 289 ngày, T đã thu số tiền lãi là 50.000.000 đồng (trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự là 40.000.000 x 20% : 365 x 289 ngày= 6.334.247 đồng), số tiền thu lời bất chính là 43.665.753đ.
    • Trong 02 gói vay trên tổng số tiền lãi T đã thu của anh Q1 là 61.500.000 đồng; tổng số tiền lãi tối đa được thu theo quy định của nhà nước là 7.528.768 đồng; tổng số tiền thu lời bất chính 53.971.232 đồng.
  3. Đối với anh Trương Ngọc H2:
    • - Gói vay 1: Ngày 15/4/2023, T cho anh H2 vay số tiền 20.000.000 đồng. T bảo H1 làm thủ tục cho anh H2 vay tiền rồi T chuyển khoản cho anh H2 số tiền 17.000.000 đồng sau khi đã cắt trước tiền lãi tháng đầu tiên với số tiền là 3.000.000 đồng. Đến ngày 01/6/2023, anh H2 đã tất toán gói vay này, trả đủ số tiền gốc là 20.000.000 đồng và số tiền lãi là 4.000.000 đồng.
    • Anh H2 vay 20.000.000đ, thời gian vay từ ngày 15/4/2023 đến ngày 01/6/2023 là 48 ngày, lãi thu thực tế 4.000.000₫, (trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định Điều 468 của Bộ luật dân sự là 20.000.000x20%:365x48ngày =526.027đ đồng, số tiền thu lợi bất chính là 3.473.973 đồng
    • - Gói vay 2: Ngày 10/6/2023, T cho anh H2 vay số tiền 30.000.000 đồng. T bảo H1 làm thủ tục cho anh H2 vay tiền rồi T chuyển khoản cho anh H2 số tiền 28.500.000 đồng sau khi đã cắt lãi trước 10 ngày với số tiền là 1.500.000 đồng. Đến ngày 22/6/2023, anh H2 đã tất toán gói vay này, trả đủ số tiền gốc là 30.000.000 đồng và số tiền lãi là 1.500.000 đồng.
    • Anh H2 vay 30.000.000đ, thời gian vay từ ngày 10/6/2023 đến ngày 22/6/2023 là 13 ngày, lãi thu thực tế 1.500.000 đồng (trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định Điều 468 của Bộ luật dân sự là 30.000.000 x 20% : 365 x 13ngày = 213.699 đồng), số tiền thu lợi bất chính là 1.286.301đồng.
    • - Gói vay 3: Ngày 24/6/2023, T tiếp tục cho anh H2 vay số tiền 30.000.000đồng. T bảo H1 làm thủ tục cho anh H2 vay tiền rồi T chuyển khoản cho anh H2 số tiền 28.500.000 đồng sau khi đã cắt lãi trước 10 ngày với số tiền là 1.500.000 đồng. Đến ngày 30/6/2023, anh H2 đã tất toán gói vay này, trả đủ số tiền gốc là 30.000.000 đồng và số tiền lãi là 1.500.000 đồng.
    • Anh H2 vay 30.000.000đ, thời gian vay từ ngày 24/6/2023 đến ngày 30/6/2023 là 07ngày, lãi thu thực tế 1.500.000đ (trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định Điều 468 của Bộ luật dân sự là 30.000.000 x 20% : 365 x 07ngày =115.068 đồng), số tiền thu lợi bất chính là 1.384.932 đồng
    • - Gói vay 4: Ngày 01/7/2023, T cho anh H2 vay số tiền 30.000.000 đồng. T bảo H1 làm thủ tục cho anh H2 vay tiền rồi T chuyển khoản cho anh H2 số tiền 28.500.000 đồng sau khi đã cắt lãi trước 10 ngày với số tiền là 1.500.000 đồng. Đến ngày 25/8/2023, anh H2 đã tất toán gói vay này, trả đủ số tiền gốc là 30.000.000 đồng và số tiền lãi là 7.500.000đồng.
    • Anh H2 vay 30.000.000đ, thời gian vay từ ngày 01/7/2023 đến ngày 25/8/2023 là 56 ngày, lãi thu thực tế 7.500.000đ (trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định Điều 468 của Bộ luật dân sự là 30.000.000x20% : 365 x 56ngày = 920.548đ đồng), số tiền thu lợi bất chính là 6.579.452 đồng.
    • - Gói vay 5: Ngày 30/10/2023, T cho anh H2 vay số tiền 20.000.000đồng. T bảo H1 làm thủ tục cho anh H2 vay tiền rồi T chuyển khoản cho anh H2 số tiền 19.000.000 đồng sau khi đã cắt lãi trước 10 ngày với số tiền là 1.000.000 đồng. Đến ngày 04/11/2023, anh H2 đã tất toán gói vay này, trả đủ số tiền gốc là 20.000.000 đồng và số tiền lãi là 1.000.000 đồng.
    • Anh H2 vay 20.000.000đ, thời gian vay từ ngày 30/10/2023 đến ngày 04/11/2023 là 06 ngày, lãi thu thực tế 1.000.000 đồng (trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định Điều 468 của Bộ luật dân sự là 20.000.000 x 20% : 365 x 06 ngày = 65.753 đồng), số tiền thu lợi bất chính là 934.247 đồng.
    • - Gói vay 6: Ngày 06/11/2023, T cho anh H2 vay số tiền 20.000.000 đồng. T bảo H1 làm thủ tục cho anh H2 vay tiền rồi T chuyển khoản cho anh H2 số tiền 19.000.000 đồng sau khi đã cắt lãi trước 10 ngày với số tiền là 1.000.000 đồng. Đến ngày 23/11/2023, anh H2 đã tất toán gói vay này, trả đủ số tiền gốc là 20.000.000 đồng và số tiền lãi là 1.000.000 đồng.
    • Anh H2 vay 20.000.000đ, thời gian vay từ ngày 06/11/2023 đến ngày 23/11/2023 là 18 ngày, lãi thu thực tế 1.000.000 đồng (trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định Điều 468 của Bộ luật dân sự là 20.000.000 x 20% : 365 x 18 ngày =197.260 đồng), số tiền thu lợi bất chính là 802.740 đồng.
    • - Gói vay 7: Ngày 27/11/2023, T cho anh H2 vay số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). T bảo H1 làm thủ tục cho anh H2 vay tiền rồi T chuyển khoản cho anh H2 số tiền 19.000.000 đồng sau khi đã cắt lãi trước 10 ngày với số tiền là 1.000.000 đồng. Đến ngày 07/12/2023, anh H2 đã tất toán gói vay này, trả đủ số tiền gốc là 20.000.000 đồng và số tiền lãi là 1.000.000 đồng.
    • Anh H2 vay 20.000.000đ, thời gian vay từ ngày 27/11/2023 đến ngày 07/12/2023 là 11 ngày, lãi thu thực tế 1.000.000 đồng (trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định Điều 468 của Bộ luật dân sự là 20.000.000x20%:365x 11 ngày = 120.548 đồng), số tiền thu lợi bất chính là 879.452 đồng.
    • - Gói vay 8: Ngày 13/12/2023, T cho anh H2 vay số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). T bảo H1 làm thủ tục cho anh H2 vay tiền rồi T chuyển khoản cho anh H2 số tiền 19.000.000 đồng sau khi đã cắt lãi trước 10 ngày với số tiền là 1.000.000 đồng. Đến ngày 03/02/2024, anh H2 chuyển khoản cho T để tất toán gói vay này, thanh toán số tiền gốc là 19.500.000 đồng (xin Tuyến cho 500.000 đồng thì T đồng ý) và số tiền lãi là 5.000.000 đồng.
    • Anh H2 vay 20.000.000đ, thời gian vay từ ngày 13/12/2023 đến ngày 03/02/2024 là 53 ngày, lãi thu thực tế 5.000.000đồng(trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định Điều 468 của Bộ luật dân sự là 20.000.000 x 20% : 365 x 53ngày = 580.822 đồng), số tiền thu lợi bất chính là 4.419.178 đồng.
    • - Gói vay 9: Ngày 24/02/2024, T cho anh H2 vay số tiền 20.000.000 đồng. T bảo H1 làm thủ tục cho anh H2 vay tiền rồi T chuyển khoản cho anh H2 số tiền 19.000.000 đồng sau khi đã cắt lãi trước 10 ngày với số tiền là 1.000.000 đồng.
    • Đến ngày 14/5/2024, anh H2 chưa tất toán gói vay này, chưa trả tiền gốc cho T, số tiền lãi mà anh H2 đã trả là 5.000.000 đồng.
    • Anh H2 vay 20.000.000đ, thời gian vay từ ngày 24/02/2024 đến ngày 14/5/2024 là 31ngày, lãi thu thực tế 5.000.000 đồng (trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định Điều 468 của Bộ luật dân sự là 20.000.000 x 20% : 365 x 31ngày = 887.671đồng), số tiền thu lợi bất chính là 4.112.329 đồng.
    • Trong 09 gói vay trên tổng số tiền lãi mà T đã thu của anh H2 là 28.500.000 đồng; tổng số tiền lãi tối đa được thu theo quy định của nhà nước là 3.627.396 đồng; tổng số tiền thu lời bất chính 24,872,604 đồng.
  4. Đối với chị Nguyễn Thị S
    • - Gói vay 1: Ngày 20/4/2023, T cho chị S vay số tiền 10.000.000 đồng. Tuyến chuyển khoản cho Q số tiền 9.500.000 đồng sau khi đã cắt lãi trước 10 ngày với số tiền là 500.000 đồng rồi Q tiếp tục chuyển khoản sang tài khoản của chị S cho chị S vay tiền. Đến ngày 09/6/2023, chị S đã tất toán gói vay này, trả đủ số tiền gốc là 10.000.000 đồng và số tiền lãi là 2.500.000 đồng.
    • Chị S vay 10.000.000đ, thời gian vay từ ngày 20/4/2023 đến ngày 09/6/2023 là 51 ngày, lãi thu thực tế 2.500.000 đồng (trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định Điều 468 của Bộ luật dân sự là 10.000.000x20%:365x 51ngày = 279.452 đồng), số tiền thu lợi bất chính là 2.220.548 đồng.
    • - Gói vay 2: Ngày 30/9/2023, T cho chị S vay số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Tuyến chuyển khoản cho Q số tiền 9.500.000 đồng sau khi đã cắt lãi trước 10 ngày với số tiền là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) rồi Q tiếp tục chuyển khoản sang tài khoản của chị S cho chị S vay tiền. Đến ngày 30/10/2023, chị S đã tất toán gói vay này, trả đủ số tiền gốc là 10.000.000 đồng và số tiền lãi là 1.500.000 đồng.
    • Chị S vay 10.000.000đ, thời gian vay từ ngày 30/9/2023 đến ngày 30/10/2023 là 31 ngày, lãi thu thực tế 1.500.000 đồng(trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định Điều 468 của Bộ luật dân sự là 10.000.000x20%:365x 31ngày = 169.863 đồng), số tiền thu lợi bất chính là 1.330.137 đồng.
    • - Gói vay 3: Ngày 23/11/2023, T cho chị S vay số tiền 10.000.000 đồng. Tuyến chuyển khoản cho Q số tiền 9.500.000 đồng sau khi đã cắt lãi trước 10 ngày với số tiền là 500.000 đồng rồi Q tiếp tục chuyển khoản sang tài khoản của chị S cho chị S vay tiền. Đến ngày 28/02/2024, chị S đã tất toán gói vay này, trả đủ số tiền gốc là 10.000.000 đồng và số tiền lãi là 4.500.000 đồng.
    • Chị S vay 10.000.000đ, thời gian vay từ ngày 23/11/2023 đến ngày 28/2/2024 là 98 ngày, lãi thu thực tế 4.500.000 đồng(trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định Điều 468 của Bộ luật dân sự là 10.000.000x20%:365x 98 ngày = 536.986 đồng), số tiền thu lợi bất chính là 3.963.014 đồng.
    • - Gói vay 4: Ngày 28/12/2023, T cho chị S vay số tiền 20.000.000 đồng. Tuyến chuyển khoản cho Q số tiền 19.000.000 đồng sau khi đã cắt lãi trước 10 ngày với số tiền là 1.000.000 đồng rồi Q tiếp tục chuyển khoản sang tài khoản của chị S cho chị S vay tiền. Đến ngày 28/02/2024, chị S đã tất toán gói vay này, trả đủ số tiền gốc là 20.000.000 đồng và số tiền lãi là 5.000.000 đồng.
    • Chị S vay 20.000.000đ, thời gian vay từ ngày 28/12/2023 đến ngày 28/02/2024 là 63 ngày, lãi thu thực tế 5.000.000 đồng(trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định Điều 468 của Bộ luật dân sự là 10.000.000x20%:365x 63 ngày =690.411đồng), số tiền thu lợi bất chính là 4.309.589đồng.
    • Trong các gói vay trên số tiền lãi T đã thu của chị S là 13.500.000 đồng; tổng số tiền lãi tối đa được thu theo quy định của nhà nước là 1.676.712 đồng; tổng số tiền thu lời bất chính 11.823.288 đồng.
  5. Đối với anh Ngô Quốc H3:
    • Ngày 24/7/2022, Lê Bá T cho anh H3 vay số tiền 10.000.000 đồng. Khi đó, T chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng của Q số tiền 9.500.000 đồng sau khi đã cắt lãi trước 10 ngày với số tiền là 500.000 đồng rồi Q tiếp tục chuyển khoản sang tài khoản của anh H3 cho anh H3 vay tiền. Đến ngày 26/5/2023, anh H3 đã tất toán gói vay này, trả đủ số tiền gốc là 10.000.000 đồng và số tiền lãi là 14.300.000 đồng.
    • Anh H3 vay 10.000.000đ, thời gian vay từ ngày 24/7/2022 đến ngày 26/5/2023 là 307 ngày, lãi thu thực tế 14.300.000 đồng (trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định Điều 468 của Bộ luật dân sự là 10.000.000x20%:365x 307ngày = 1.682. 192 đồng), số tiền thu lợi bất chính là 12.617.808đồng.
  6. Đối với anh Lê Văn B1:
    • - Gói vay 1: Ngày 12/9/2022, Lê Bá T cho anh B1 vay số tiền 10.000.000 đồng. Khi đó, T chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng của Q số tiền 9.500.000 đồng sau khi đã cắt lãi trước 10 ngày với số tiền là 500.000 đồng rồi Q tiếp tục chuyển khoản sang tài khoản của anh B1 cho anh B1 vay tiền. Đến ngày 07/11/2023, anh B1 đã tất toán gói vay này, trả đủ số tiền gốc là 10.000.000 đồng và số tiền lãi là 21.000.000 đồng.
    • Anh B1 vay 10.000.000đ, thời gian vay từ ngày 12/9/2022 đến ngày 07/11/2023 là 422 ngày, lãi thu thực tế 21.000.000 đồng(trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định Điều 468 của Bộ luật dân sự là 10.000.000x20%:365x422 ngày =2.312.329đồng), số tiền thu lợi bất chính là 18.687.671đồng.
    • - Gói vay 2: Ngày 20/10/2023, T cho anh B1 vay số tiền 10.000.000 đồng. Tuyến chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng của Q số tiền 9.500.000 đồng sau khi đã cắt lãi trước 10 ngày với số tiền là 500.000 đồng, Q chuyển khoản sang tài khoản của anh B1 cho anh B1 vay tiền. Đến ngày 14/5/2024, anh B1 chưa tất toán gói vay này nên chưa thanh toán số tiền gốc trên cho T, tổng số tiền lãi mà anh B1 đã trả là 8.000.000 đồng.
    • Anh B1 vay 10.000.000đ, thời gian vay từ ngày 20/10/2023 đến ngày 14/5/2024 là 208 ngày, lãi thu thực tế 8.000.000 đồng(trong đó tiền thu lãi tối đa theo quy định Điều 468 của Bộ luật dân sự là 10.000.000x20%:365x 208 ngày =1.139.726 đồng), số tiền thu lợi bất chính là 6.860.274 đồng.
    • Trong 02 gói vay trên tổng số tiền lãi mà T đã thu là 29.000.000 đồng; số tiền lãi tối đa được thu theo quy định của nhà nước là 3.452.055 đồng; số tiền thu lời bất chính là 25.547.945 đồng.

- Ngày 14/5/2024, Lê Bá T và Nguyễn Văn Q đã đến Công an tỉnh T đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

- Ngày 14/5/2024,Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Bá T tại thôn K, xã H, và chỗ ở của Nguyễn Văn Q tại thôn K, xã H, huyện H, nhưng không thu giữ được gì.

- Ngày 11/8/2024,Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã triệu tập Nguyễn Văn Q đến trụ sở làm việc, Q đã tự nguyện giao nộp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 Pro Max, màu xanh bóng đêm, số máy MWGJ2LL/A, số seri G6TZG84N70G, số IMEI 1: 353901101618603, số IMEI 2: 353901101634535. Chứa sim điện thoại số thuê bao 0987438555. Điện thoại đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra và phiên tòa bị cáo Lê Bá T khai nhận: số tiền dùng để cho các người liên quan vay nợ ban đầu là 150.000.000 đồng, sau đó bị cáo lấy số tiền đó để quay vòng, thu gốc của người này rồi tiếp tục cho người khác vay cũng chỉ trong số tiền đó. Còn khoản tiền lãi thu được dùng để trả tiền lương cho những người làm công và tiền ăn, tiền xăng xe cũng như để chi tiêu cá nhân.

Như vậy, trong các gói vay mà Lê Bá T đã cho 06 người vay trên với tổng số tiền gốc được xác định là 150.000.000 đồng. Lê Bá T đã thu lãi của những người vay này tổng số tiền lãi là: 213.250.000 đồng (trong đó số tiền lãi được thu tối đa theo quy định Điều 468 Bộ luật dân sự là: 26.871.233); số tiền thu lời bất chính là: 186.378.767đồng. Trong quá trình cho vay tính đến ngày 14/5/2024 (ngày T đầu thú) thì những người sau chưa trả tổng số tiền nợ gốc cho T gồm: anh B 50.000.000 đồng, anh Q1 40.000.000 đồng, anh H2 20.000.000 đồng, anh B1 10.000.000₫.

* Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 và Thông báo sửa chữa, bổ sung Bản án số: 73a/2024/TB-TA ngày 02/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa:

Căn cứ khoản 2, 3 Điều 201, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Lê Bá T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt bị cáo Lê Bá T 24 (hai mươi tư) tháng tù, trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/5/2024 đến ngày 18/7/2024. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Phạt bổ sung bằng tiền: 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).

Ngoài ra Bản án còn tuyên hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

* Trong thời hạn luật định, bị cáo Lê Bá T làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T bổ sung nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm tiền hình phạt bổ sung cho bị cáo, bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo.

* Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa sau khi phân tích tính chất vụ án, nhân thân, hành vi phạm tội của bị cáo cũng như tình tiết mới được bổ sung tại phiên tòa đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Bá T theo hướng giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo từ 03 đến 04 tháng tù và cho được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo. Đối với hình phạt bổ sung: Đề nghị giảm mức hình phạt tiền cho bị cáo từ 30.000.000đồng đến 40.000.000đồng.

Lời nói sau cùng, các bị cáo nhận thức được lỗi lầm, hứa không vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lê Bá T được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Bá T làm theo đúng quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo.

[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Bá T tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai trong giai đoạn sơ thẩm, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu thu thập trong quá trình điều tra, đủ cơ sở kết luận: Nhằm mục đích thu lợi bất chính, từ tháng 24/7/2022 đến ngày 15/4/2024, Lê Bá T đã cùng với Nguyễn Văn Q và Hoàng Văn H1 thực hiện hoạt động cho vay lãi bằng hình thức vay tín chấp với mức lãi suất 5.000 đồng/1triệu/1 ngày, tương đương với mức lãi suất 182,5% năm (gấp 9,5 lần) so với mức lãi suất cao nhất (20%/năm) quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Tuyến đã cho 06 người vay gồm anh Lương Công B2, anh Lê Hữu Q1, anh Trương Ngọc H2, chị Nguyễn Thị S, anh Lê Văn B1, anh Ngô Quốc H3. Lê Bá T đã thu lãi của những người vay là:

213.250.000 đồng (số tiền lãi được thu tối đa theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 26.871.233 đồng), số tiền thu lời bất chính là: 186.378.767 đồng.

[2.2] Đánh giá tính chất của vụ án và quan hệ pháp luật xâm phạm: Bị cáo dùng tiền của mình để thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ thu lãi bất hợp pháp, vì vậy đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước về tín dụng mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ; xâm phạm đến lợi ích của công dân. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung.

Với hành vi trên, Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa tuyên bố bị cáo Lê Bá T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc đầy đủ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, bị cáo T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo đầu thú về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Lê Bá T có thêm tình tiết giảm nhẹ mới, cụ thể: Giấy xác nhận ngày 04/12/2024 của Giám đốc Trung tâm T3 về việc từ năm 2019 đến năm 2024 bị cáo đã làm từ thiện tại C Hồi L2 để tặng quà cho trẻ em tại Trung tâm với số tiền cụ thể nêu trong Giấy xác nhận; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Ngô Quốc H3, chị Nguyễn Thị S có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Xác nhận của chính quyền địa phương về việc bị cáo tích cực tham gia các phong trào thôn xóm làng tổ chức như: Trại hè, tết Trung thu,..., phong trào thể thao như đá bóng, bóng chuyền...; ngoài ra, bị cáo còn tham gia ủng hộ, khuyên góp về mặt tài chính để duy trì các hoạt động trên được diễn ra đều đặn, liên tục, góp phần xây dựng xóm làng, phường xã tiến bộ, văn minh và giàu mạnh hơn, cụ thể phong trào của thôn P, thôn K của xã H.

Do tại cấp phúc thẩm, bị cáo T có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo T ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương, nơi bị cáo cư trú và gia đình có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện để bị cáo học tập trở thành người sống tuân theo pháp luật, có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời vẫn đảm bảo được tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Do đó cần áp dụng Điểu 65 của Bộ luật Hình sự, xem xét cho được hưởng án treo để bị cáo thấy

được tính nhân đạo của Nhà nước và sự khoan hồng của pháp luật, đồng thời cũng nhằm giáo dục, giúp đỡ bị cáo nhận thức, sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh bản thân mà trở thành người công dân có ích cho xã hội. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục là phủ hợp. Do vậy, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo T là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là áp dụng điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa phần hình phạt của Bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ một phần hình phạt của Bản án sơ thẩm và cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ pháp luật.

Đối với nội dung kháng cáo xin giảm mức tiền hình phạt bổ sung: Trong vụ án này bị cáo Lê Bá T và các bị cáo khác đã cho 06 người vay và thu lời bất chính số tiền là 186.378.767đồng. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền 60.000.000đồng đối với bị cáo là chưa phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, nên cần chấp nhận kháng cáo bổ sung của bị cáo và giảm cho bị cáo một phần tiền của hình phạt bổ sung. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị giảm cho bị cáo từ 30.000.000đồng đến 40.000.000đồng là có căn cứ.

[3] Bị cáo Lê Bá T bị tạm giữ, tạm giam ngày 14/5/2024 đến ngày 18/7/2024. Căn cứ Nghị quyết 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của HĐTP TANDTC thì thời gian này không được trừ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Lê Bá T được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sựđiểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Bá T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 73/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa theo hướng giảm nhẹ một phần hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, giảm một phần tiền của hình phạt bổ sung cho bị cáo Lê Bá T.

2. Căn cứ: khoản 2, 3 Điều 201; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Bá T phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Bá T 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 40 (Bốn mươi) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (14/02/2025).

Hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Bá T số tiền 30.000.000đồng(Ba mươi triệu đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước.

Giao bị cáo Lê Bá T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sựTrong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

* Về án phí: Bị cáo Lê Bá T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

* Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

* Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Vụ I TANDTC;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND, TAND, THAHS
  • Huyện Hoằng Hóa;
  • - THADS huyện Hoằng Hóa;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã Hoằng Tiến,
  • huyện Hoằng Hóa;
  • - TỔ HC-TP;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Ngọc Lâm

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁNTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị HiệuHoàng Thị NguyệtLê Ngọc lâm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ phút ngày 19 tháng 9 năm 2024

Tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Lâm

Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị N

Bà Lê Thị H4

Tiến hành nghị án vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 231/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Trần Trung K, bị Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. * Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sựđiểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận phần kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Trần Trung K. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 108/2024/HS-ST ngày 18/7/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa theo hướng giữ nguyên về phần hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

2. Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Trung K phạm tội: “Đánh bạc”.

Xử phat: Bị cáo Trần Trung K 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (19/9/2024).

Giao bị cáo Trần Trung K cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sựTrong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

3. Về án phí: bị cáo Trần Trung K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

L3

CÁC THẨM PHÁNTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tại phiên toà bị cáo Vì Anh Đ thừa nhận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 03/02/2017 Vì Anh Đ - sinh năm 1983 đã thực hiện hành vi dùng tay sờ mó, xoa vào bộ phận sinh dục (âm hộ) của cháu Phạm Thị Thanh T2, sinh ngày 09/5/2010, tại gia đình Vì Anh Đ ở thôn K, xã K, huyện N. Trong vụ án này, bị cáo chỉ dùng tay sờ mó bộ phận sinh dục của người bị hại nhằm thỏa mãn dục vọng của mình, chứ không có mục đích giao cấu với người bị hại.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố nh bản cáo trạng, bị cáo nhận tội và không tranh luận gì với đại diện VKS. Lời sau cùng bị cáo đ nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ TNHS vì bị cáo rất hối hận, nhận thức rõ đợc những sai phạm của mình và hứa sẽ cải tạo tốt để trở thành công dân có ích.

Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vì Anh Đ phạm tội: “Dâm ô đối với trẻ em”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 116 BLHS năm 1999.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm tới trật tự công cộng, nếp sống văn minh xã hội, trái với đạo đức truyền thống, thuần phong mỹ tục của dân tộc, làm ảnh hởng xấu đến đời sống văn hoá, trật tự trị an, gây ra nhiều hậu quả khôn lòng, làm ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển bình thường của trẻ em. Do vậy hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng cần phải xử lý nghiêm.

Tuy nhiên khi quyết định mức hình phạt cần xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại, bị cáo là ngời dân tộc Mờng; có bố là ngời có công với cách mạng đợc tặng thởng H5 chơng kháng chiến hạng nhì vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba vì đã có thành tích phục vụ trong Q3; sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú và khai báo hành vi phạm tội của mình, người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên căn cứ

các tình tiết quy định tại điểm b, p, h khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 và điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Với tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo cha có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi c trú ổn định; vì vậy xét không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 60 BLHS đối với bị cáo, để cho bị cáo cải tạo tại địa phương dới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phơng nơi bị cáo c trú cũng đủ điều kiện để bị cáo cải tạo trở thành công dân sống có ý thức tuân theo pháp luật, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời để giáo dục và phòng ngừa chung.

Trong quá trình điều tra bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 03/02/2017 đến ngày 06/02/2017, căn cứ Nghị quyết 01/2013/NQ – HĐTP ngày 06/11/2013 của HĐTP TANDTC thì thời gian này không được trừ khi quyết định hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi phạm tội bị cáo và gia đình bị hại đã thỏa thuận thống nhất bồi thường toàn bộ thiệt hại, nên chấp nhận sự thỏa thuận của hai bên.

Vật chứng: 01 chiếc quần của cháu Phạm Thị Thanh T2 là vật chứng của vụ án, không còn giá trị, nên cần căn cứ Điều 41 BLHS năm 1999; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 BLTTHS năm 1999 để tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí HSST: Do bị cáo là cá nhân hộ nghèo, nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội bị cáo được miễn nộp tiền án phí HSST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Vì Anh Đ phạm tội : “Dâm ô đối với trẻ em”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 116; điểm b,p,h khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1,2 Điều 60 BLHS năm 1999; điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Vì Anh Đ 09 ( chín ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo V Anh Đ cho UBND xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận bị cáo và gia đình người bị hại đã giải quyết xong phần bồi thường thiệt hại.

Vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 41 BLHS năm 1999; khoản 1 điểm a, đ khoản 2 Điều 76 BLTTHS năm 1999.

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc quần của cháu Phạm Thị Thanh T2.

(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/4/2017 và phiếu xuất kho số NK 010 ngày 18/4/2017).

Về án phí: áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đ.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án đợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dânThẩm phán - chủ tọa phiên tòa
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-PT ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự phúc thẩm (cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)

  • Số bản án: 06/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo LÊ BÁ T phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger