|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày 13-02-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Khúc Trọng Quang
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đặng Thị Đôi
- Bà Phan Thị Minh Phương
- - Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dât huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Vũ Thị H, sinh ngày 03/12/1987 tại Hải Phòng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn L, sinh năm 1960 và bà Phùng Thị G, sinh năm 1965 có chồng là Phạm Văn B, sinh năm 1987 và 03 con, con lớn nhất 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/11/2024; có mặt.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1951; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng (đã chết).
Những người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Ông Nguyễn Duy L1, sinh năm 1937; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị B2, sinh năm 1957; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
Đại diện hợp pháp của người đại diện hợp pháp của bị hại ông Nguyễn Duy L1:
- Ông Nguyễn Duy Đ, sinh năm 1961; nơi cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
- Ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1964; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
- Ông Nguyễn Duy Đ1, sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị B2, ông Nguyễn Duy Đ, ông Nguyễn Duy T, bà Nguyễn Thị K, ông Nguyễn Duy Đ1: Bà Đặng Thị Kim D, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Phạm Văn B, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 13/11/2024, Vũ Thị H điều khiển xe máy chuyên dùng, nhãn hiệu Komatsu, không gắn biển kiểm soát chở 40 bao xi măng đi ở làn bên phải đường 404 theo hướng từ nhà H ở thôn Đ, xã Đ đến thôn P, xã Đ, huyện K để giao cho khách hàng. Khi H điều khiển xe đi được khoảng 100 m do không chú ý quan sát nên xe máy chuyên dùng do H điều khiển đã va chạm với bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1951 ở thôn Đ, xã Đ, huyện K đang đi bộ sang đường, làm bà B1 chết tại hiện trường. Ngay sau đó H đến Công an xã Đ, huyện K đầu thú.
Kiểm tra nồng độ cồn và xét nghiệm ma túy đối với Vũ Thị H, kết quả hơi thở không có nồng độ cồn và âm tính với ma túy.
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường nằm trên trục đường D thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện K. Đường trải nhựa rộng 8,9 m, có vạch sơn màu vàng đứt đoạn chia thành hai chiều xe chạy riêng biệt. Khu vực tai nạn không có vạch kẻ đường cho người đi bộ sang đường, không biển báo hiệu và đèn tín hiệu giao thông. Lấy mép đường bên phải theo chiều xe đi làm chuẩn. Vết xước kích thước 7,8 x 1,1 m, đầu vết xước đến mép đường là 1,9 m, cuối vết xước trùng với trục bánh trước bên phải xe máy chuyên dùng. Vết nghi máu kích thước 5,6 x 0,2 m theo chiều xe đi, điểm đầu đến mép đường là 2,9 m, điểm cuối trùng với trục bánh trước bên phải của xe máy chuyên dùng.
Xe máy chuyên dùng dừng ở làn đường bên phải, đầu xe quay hướng thôn P, đuôi xe quay hướng thôn Đ, trên xe có 40 bao xi măng. Từ trục bánh trước, bánh sau bên phải của xe lần lượt đến mép đường là 2,45 m và 2,5 m. Từ trục bánh sau bên trái của xe đến mép đường là 3,6 m và đến mép tường bên phải nhà ông Vũ Văn H1 theo hướng từ cửa nhìn ra đường là 5,1 m. Quá trình khám nghiệm đã sao dữ liệu liên quan đến vụ tai nạn từ camera an ninh tại nhà anh Đặng Quang Đ2, sinh năm 1990 ở thôn Đ, xã Đ, huyện K.
Kết quả khám nghiệm tử thi xác định: Mặt nạn nhân biến dạng, xẹp theo chiều hai bên; vùng ngực bụng biến dạng và bè ra hai bên; vùng ngực trái đến mào chậu phải dập rách toác da, kích thước 47 x 16 cm, để lộ tổ chức gan ruột bị dập nát, ngoài ra còn một số vết xây xước khác.
Kết luận giám định tử thi số 3485/KL-KTHS ngày 19/11/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: Bà Nguyễn Thị B1 chết do sốc do đa chấn thương.
Kết quả khám phương tiện: Tại vị trí cách bậc lên, xuống bên phải cách mặt đất 18cm có dấu vết dạng nhỏ giọt nghi máu, bám dính tạp chất. Tại rãnh lốp bên phải cách mép chữ INDUSTRIAL trên thân lốp 14 cm có dấu vết bám dính tạp chất nghi máu. Hệ thống điều khiển, hệ thống hãm, đèn, còi còn hoạt động.
Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSKT ngày 22 tháng 01 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Vũ Thị H về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra trả lại 40 bao xi măng cho Vũ Thị H. 01 USB nhãn hiệu Kingston là tài liệu để trong hồ sơ vụ án. Đối với 01 xe máy chuyên dùng, nhãn hiệu Komatsu, không gắn biển kiểm soát, 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Vũ Thị H, 01 Giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe máy chuyên dùng số 18KMC/232010 ngày 27/12/2018 của Cục Đ3, chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy quản lý.
- Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Đặng Thị Kim D vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có lời khai trong hồ sơ thể hiện gia đình bị hại đã nhận bồi thường đầy đủ, không còn yêu cầu nào khác đồng thời đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Phạm Văn B vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có lời khai trong hồ sơ thể hiện chiếc xe máy chuyên dùng là tài sản chung của vợ chồng anh mua về để phục vụ công việc. Ngày 13/11/2024 bị cáo Vũ Thị H tự ý dùng xe máy chuyên dùng để chở xi măng cho khách hàng và gây tai nạn cho bà Nguyễn Thị B1. Sau khi xảy ra tai nạn bị cáo H đã bồi thường đầy đủ cho gia đình bị hại, anh đề nghị xin lại xe máy chuyên dùng trên về sử dụng, ngoài ra, anh không yêu cầu, đề nghị gì khác.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Vũ Thị H về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thị H từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là 60 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của gia đình bị hại số 130.000.000 đồng. Nay người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu đề nghị gì thêm, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại 01 xe máy chuyên dùng, nhãn hiệu Komatsu, không gắn biển kiểm soát và 01 Giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe máy chuyên dùng số 18KMC/232010 ngày 27/12/2018 của Cục Đ3 cho anh Phạm Văn B và bị cáo H; trả lại cho bị cáo H 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Vũ Thị H.
- Ý kiến của bị cáo Vũ Thị H: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy đã truy tố là đúng; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy truy tố đối với bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Vũ Thị H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người đại diện hợp pháp cho bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên toà thể hiện: Khoảng 14 giờ 35 phút ngày 13/11/2024, Vũ Thị H điều khiển xe máy chuyên dùng nhãn hiệu Komatsu chở 40 bao xi măng đi ở làn bên phải đường 404 theo hướng từ nhà H ở thôn Đ, xã Đ đến thôn P, xã Đ, huyện K để giao cho khách hàng. Khi H điều khiển xe đi được khoảng 100 m do không chú ý quan sát nên xe máy chuyên dùng do H điều khiển đã va chạm với bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1951 ở thôn Đ, xã Đ, huyện K đang đi bộ sang đường, làm bà B1 chết tại hiện trường. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 9 Điều 8; khoản 1 Điều 62 Luật giao thông đường bộ; khoản 6 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2018 của Bộ G1 nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo điều khiển phương tiện tham gia giao thông trong khi không có giấy phép lái xe theo quy định và gây tai nạn hậu quả người bị hại là bà Nguyễn Thị B1 bị chết nên bị cáo bị xét xử theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự như kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không vi phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đầu thú. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại, gia đình bị hại không có yêu cầu gì khác đồng thời đề nghị xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Mặt khác người bị hại là bà Nguyễn Thị B1 cũng có một phần lỗi khi đi sang đường đã không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn đã vi phạm quy định tại Điều 32 Luật giao thông đường bộ, cụ thể “Người đi bộ chỉ được qua đường ở những nơi có đèn tín hiệu, có vạch kẻ đường hoặc có cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ và phải tuân thủ tín hiệu chỉ dẫn; trường hợp không có đèn tín hiệu, không có vạch kẻ đường, cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ thì người đi bộ phải quan sát các xe đang đi tới, chỉ qua đường khi bảo đảm an toàn và chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn khi qua đường”. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo để xem xét khi quyết định hình phạt.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ nhằm đảm bảo an toàn giao thông vận tải, đảm bảo cho hoạt động giao thông vận tải đường bộ được thông suốt, được tiến hành bình thường qua đó bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe của công dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của các tổ chức và tài sản của công dân. Do vậy cần có mức hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, có nơi cư trú rõ ràng và đang được cơ quan pháp luật cho tại ngoại, trong thời gian tại ngoại bị cáo không phạm tội nào khác. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đồng thời gia đình bị cáo có đơn đề nghị bảo lĩnh cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để có cơ hội cải tạo tốt trở thành người công dân có ích cho xã hội có xác nhận của chính quyền địa phương. Do đó, có thể xem xét khoan hồng cho bị cáo, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội, tạo điều kiện để bị cáo cải tạo, tu dưỡng tốt trở thành người công dân lương thiện.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại, đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu bồi thường nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ 01 xe máy chuyên dùng Komatsu không gắn biển kiểm soát, xét đây là tài sản chung của anh Phạm Văn B và Vũ Thị H, anh Phạm Văn B và bị cáo H đề nghị xin lại xe để sử dụng. Xét yêu cầu của anh Phạm Văn B và bị cáo H là hợp pháp nên căn cứ theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần trả lại 01 xe máy chuyên dùng, nhãn hiệu Komatsu, không gắn biển kiểm soát và 01 Giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe máy chuyên dùng số 18KMC/232010 ngày 27/12/2018 của Cục Đ3 cho anh Phạm Văn B và bị cáo Vũ Thị H; đối với 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Vũ Thị H, cần trả lại cho bị cáo.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; những người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Vũ Thị H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Vũ Thị H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Vũ Thị H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Căn cứ Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú số 378/LC-CSĐT ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bị cáo Vũ Thị H thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Uỷ ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Uỷ ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Trả lại anh Phạm Văn B và bị cáo Vũ Thị H 01 xe máy chuyên dùng, nhãn hiệu Komatsu, không gắn biển kiểm soát và 01 Giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe máy chuyên dùng số 18KMC/232010 ngày 27/12/2018 của Cục Đ3;
- - Trả lại bị cáo Vũ Thị H 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Vũ Thị H.
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng).
* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
* Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Đại diện hợp pháp cho bị hại, đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Văn B có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Khúc Trọng Quang |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Đặng Thị Đôi Phan Thị Minh Phương |
Khúc Trọng Quang |
9
10
Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự)
- Số bản án: 06/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 36 tháng tù cho hưởng án treo
