TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST Ngày: 13/02/2025 V/v Ly hôn | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thiện Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Hưng;
Bà Nguyễn Thị Xuyến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Hồng Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 344/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2024 về việc “ly hôn". Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXX - ST ngày 07 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1974 (có mặt).
Địa chỉ: Xóm T, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Bị đơn: Chị Lý Thị M, sinh năm 1975 ( vắng mặt).
Địa chỉ: Xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 15/11/2024 và quá trình tố tụng giải quyết vụ án nguyên đơn anh Hoàng Văn T trình bày:
Anh và chị Lý Thị M về chung sống với nhau từ năm 1992, có được tổ chức lễ cưới theo phong tục tại địa phương, trước khi cưới có được tìm hiểu và lấy nhau tự nguyện. Tuy nhiên do bận công việc, vợ chồng không đến Uỷ ban nhân dân để đăng ký kết hôn theo quy định và đến nay cũng không có đăng ký kết hôn.
Sau khi tổ chức lễ cưới chị M về nhà anh T để sinh sống tại xóm T, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cùng bố mẹ của anh T, được một thời gian thì anh chị ra ở riêng nhưng cũng sinh sống tại xóm T, xã M, huyện Đ. Anh chị ăn chung ở chung và không ai có tài sản riêng trước khi cưới. Sau một thời gian chung sống, đến năm 2002 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị bất đồng quan điểm sống, không còn tiếng nói chung. Chị M về nhà bố mẹ đẻ ở rồi đi làm ăn không quan tâm gì đến gia đình, con cái. Vợ chồng đã sống ly thân khoảng 19 năm, không còn quan tâm đến nhau nữa.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh cương quyết xin được ly hôn chị M. Việc anh và chị M sống chung từ năm 1992 mà không có đăng ký kết hôn tùy Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Hoàng Thị B, sinh ngày 30/11/1993 và Hoàng Thị P, sinh ngày 17/12/1995, hiện nay các con chung đều đã trưởng thành và có cuộc sống gia đình riêng. Vì vậy không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và công nợ: Anh và chị M thống nhất tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công sức đóng góp cho gia đình nhà chồng của chị M: Anh T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Về phía bị đơn vắng mặt tại phiên toà nhưng trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án chị Lý Thị M trình bày:
Về thời gian, quá trình chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn, thời gian vợ chồng sống ly thân như anh T trình bày là đúng. Anh T có hỏi thủ tục đăng ký kết hôn những do bận công việc nên vợ chồng không lên Uỷ ban nhân dân xã để đăng ký kết hôn và đến nay cũng không đăng ký kết hôn.
Khi mới về chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc nhưng đến năm 2002 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, làm ăn kinh tế khó khăn, nên thường xuyên nảy sinh cãi vã. Sau đó chị bỏ đi làm ăn để kiếm tiền nuôi con chỉ thỉnh thoảng mới về nhà. Từ đó đến nay đã hơn 19 năm vợ chồng anh chị sống ly thân, không còn tình cảm và không có sự quan tâm đến nhau nữa. Nay con của chị và anh T đã trưởng thành, chị cũng không còn vướng bận gì nữa, anh T làm đơn yêu cầu giải quyết ly hôn chị hoàn toàn đồng ý, tùy Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Hoàng Thị B, sinh ngày 30/11/1993 và Hoàng Thị P, sinh ngày 17/12/1995, hiện nay các con chung đều đã trưởng thành và có cuộc sống gia đình riêng. Vì vậy không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ: Chị M và anh T thống nhất tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công sức đóng góp cho gia đình nhà chồng của chị M: Chị M xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trước khi nghị án, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân theo pháp luật tố tụng. Việc cấp giao tống đạt văn bản tố tụng, việc xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ, thủ tục tố tụng, thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Anh T và chị M chung sống với nhau từ năm 1992 nhưng không có đăng ký kết hôn, vì vậy không công nhận là vợ, chồng; về con chung, các con đều đã trưởng thành vì vậy không đặt ra xem xét giải quyết; về tài sản, công nợ các bên đương sự tự phân chia vì vậy không đặt ra xem xét, giải quyết; về án phí dân sự sơ thẩm anh T phải nộp theo quy định của pháp luật.
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành hòa giải vợ chồng về đoàn tụ và đi đăng ký kết hôn theo quy định nhưng không thành. Vì vậy vụ án được đưa ra xét xử công khai ngày hôm nay.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Đây là vụ án “ly hôn” mà bị đơn cư trú tại xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên toà không có lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ bằng biện pháp xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ về việc đăng ký kết hôn giữa anh T và chị M. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay có sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự là đúng quy định của pháp luật.
[2]. Xét về quan hệ hôn nhân và yêu cầu xin ly hôn của anh T, ý kiến của chị M thấy rằng:
Anh T và chị M chung sống với nhau từ năm 1992 trên cơ sở được tự do tìm hiểu và tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương nhưng anh T và chị M thừa nhận là không đi đăng ký kết hôn, đến nay anh, chị cũng không có đăng ký kết hôn. Xác minh tại UBND xã M và UBND xã P nơi cư trú, nơi có thẩm quyền đăng ký kết hôn cho anh T, chị M vào thời điểm vợ chồng chung sống và đến nay cũng không có đăng ký kết hôn. Vì vậy không được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp.
Anh T, chị Miền C sống với nhau từ năm 1992, đến năm 2002 phát sinh mâu thuẫn, sau đó chị M bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở rồi đi làm, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Điều đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, yêu cầu xin ly hôn của anh T là có căn cứ, đúng thực tế. Tuy nhiên anh, chị chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đến nay cũng không có đăng ký kết hôn, không được pháp luật thừa nhận. Căn cứ vào Điều 9; Điều 14; Điều 51; Điều 53 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Hoàng Văn T và chị Lý Thị M.
[3]. Về việc nuôi con chung xét thấy: Anh Hoàng Văn T và chị Lý Thị M, thống nhất xác định anh, chị có hai con chung là Hoàng Thị B, sinh ngày 30/11/1993 và Hoàng Thị P, sinh ngày 17/12/1995. Cả hai con chung đều đã trưởng thành (trên 18 tuổi), đã đi xây dựng gia đình riêng và đều lao động tự túc được. Vì vậy không đặt ra xem xét giải quyết.
[4]. Về tài sản chung, công nợ: Anh Hoàng Văn T và chị Lý Thị M xác định tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Vì vậy không đặt ra xem xét.
[5].Về công sức đóng góp cho gia đình nhà chồng của chị M: Anh T và chị M thống nhất xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy không đặt ra xem xét.
[6]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 9, 14, 51, 53 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Nghị Quyết số 236/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Hoàng Văn T và chị Lý Thị M.
- Về con chung: Anh Hoàng Văn T và Lý Thị M có 02 con chung là Hoàng Thị B, sinh ngày 30/11/1993 và Hoàng Thị P, sinh ngày 17/12/1995. Cả hai con chung đều đã trưởng thành (trên 18 tuổi), lao động tự túc được. Vì vậy không đặt ra xem xét giải quyết về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về chia tài sản và công nợ: Anh Hoàng Văn T và Lý Thị M xác định tự phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về công sức đóng góp cho gia đình nhà chồng: Anh Hoàng Văn T và Lý Thị M xác định không có. Vì vậy không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Hoàng Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0005746 ngày 05/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Anh T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Vắng mặt bị đơn, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thiện Hoàng |
Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn
- Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
