|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST Ngày: 12/02/2025 V/v: “tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Như
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hiền
Bà Nguyễn Thị Bé Em
-Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoa Hạ - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ấm - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 391/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1983;
Cư trú: 232Đ ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1984;
Cư trú: 232Đ ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
(Bà H có mặt; ông P vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/9/2024, bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: bà và ông Nguyễn Thanh P tự nguyện tìm hiểu 6 năm trước khi tiến hành đăng ký kết hôn vào ngày 20/10/2009 tại Ủy ban nhân dân phường C (nay là phường A), thành phố B, tỉnh Bến Tre. Từ năm 2011 đến nay, vợ chồng sinh sống tại địa chỉ 232Đ ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, sau một thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống với nhau, cả hai không có tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân làm cho không khí trong gia đình trở nên ngột ngạt. Bà nhận thấy giữa bà và ông P không thể tiếp tục sống cùng với nhau, cả hai không còn yêu thương, quan tâm và chăm sóc lẫn nhau. Mặc dù vợ chồng sống chung nhà nhưng đã ly thân hơn một năm. Nay, bà xác định không còn tình cảm với ông P nên bà yêu cầu được ly hôn với ông P.
Về con chung: bà và ông P có với nhau 02 con chung tên Nguyễn Quốc N, sinh ngày 12/8/2011 và Nguyễn Hoàng P1, sinh ngày 15/12/2014. Hiện nay, hai con chung đang sống chung với bà và ông P. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu trực tiếp nuôi hai con. Về mức cấp dưỡng nuôi con, bà và ông P tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: không có.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh P:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Thanh P, tuy nhiên ông P vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: căn cứ các điều 51, 56, 58, 59, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đề nghị tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H; Về con chung giao hai con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng; Về mức cấp dưỡng nuôi con các bên tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Về tài sản chung, bà H khai tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Về nợ chung, bà H khai không có nên không xem xét; Án phí thực hiện theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự và phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: căn cứ đơn khởi kiện của bà Trần Thị H đề ngày 16/9/2024 (BL03) cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc tranh chấp ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo các điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn đây là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 3 điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn ông Nguyễn Thanh P có nơi cư trú tại B ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Đối chiếu điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: bị đơn ông Nguyễn Thanh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông P vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông P.
[2] Về quan hệ hôn nhân: bà H và ông P đăng ký kết hôn vào ngày 20/6/2009 tại Ủy ban nhân dân phường C (nay là phường A), thành phố B, tỉnh Bến Tre. Việc đăng ký kết hôn giữa bà H và ông P là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc, đã tuân thủ đúng theo quy định pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Quá trình giải quyết vụ án, bà H yêu cầu được ly hôn với ông P do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân, mặc dù vợ chồng sống chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống, bà không còn tình cảm và không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống với ông P. Để có cơ sở giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông P nhiều lần đến Tòa án nhằm tạo điều kiện cho ông và bà H hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, ông P vắng mặt cũng như không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu ly hôn của bà H, như vậy ông P có ý thức bỏ mặt việc bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn và không có ý định hòa giải đoàn tụ. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông P đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu ly hôn với ông P là có căn cứ nên được chấp nhận.
[3] Về con chung: bà H và ông P có với nhau 02 con chung tên Nguyễn Quốc N, sinh ngày 12/8/2011 và Nguyễn Hoàng P1, sinh ngày 15/12/2014. Xét thấy hiện nay hai con chung đang sống chung với bà H, đồng thời tại biên bản ghi nguyện vọng con chung ngày 29/11/2024, cháu P1 muốn sống chung với bà H (BL23); bên cạnh đó, bà H cung cấp xác nhận mức lương của bà nhằm chứng minh bà H đủ điều kiện trực tiếp nuôi hai con (BL21); mặt khác, phía ông P cũng không ý kiến phản đối về việc bà H yêu cầu trực tiếp nuôi hai con chung. Từ các phân tích trên, đối chiếu quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xét thấy để hai con chung phát triển ổn định, toàn diện, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, cần thiết giao hai con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về mức cấp dưỡng nuôi con, bà H khai tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
[4] Về tài sản chung: bà H khai tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
[5] Các vấn đề khác: bà H khai không có nợ chung nên không xem xét.
[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà H có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch với số tiền 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Các điều 51, 56, 58, 59, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Khoản 3 Điều 4, khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” với bị đơn ông Nguyễn Thanh P, cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Thanh P.
- Về con chung:
Giao cháu Nguyễn Quốc N, sinh ngày 12/8/2011 và cháu Nguyễn Hoàng P1, sinh ngày 15/12/2014 cho bà Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.
Về mức cấp dưỡng nuôi con: bà Trần Thị H khai tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, không ai có quyền ngăn cản. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: bà Trần Thị H khai tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
- Các vấn đề khác: bà Trần Thị H khai không có nợ chung nên không xem xét.
- Án phí: bà Trần Thị H có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch với số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005249 ngày 23/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (đã nộp xong).
- Về quyền kháng cáo: bà Trần Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông Nguyễn Thanh P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Thị Thanh Như |
5
Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
