Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒA BÌNH

TỈNH BẠC LIÊU

Bản án số: 06/2025/DS-ST

Ngày 12 tháng 02 năm 2025

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Tài Em
  • Ông Liêu Tài Ngoánh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Văn Hữu Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 326/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp quyền sử dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXX-ST ngày 16 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-DS ngày 16/01/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lâm Thị X, sinh năm 1950.
  2. Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

  3. Bị đơn: Bà Đinh Ngọc T, sinh năm 1974.
  4. Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

(Bà X, bà T có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn bà Lâm Thị X trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là do vợ chồng bà X nhận chuyển nhượng của ông Bảy Ư khoảng 40 năm nay, nhận chuyển nhượng diện tích 4.294m², khi chuyển nhượng đất không có làm giấy tờ gì. Thời điểm ông Bảy Ư chuyển nhượng cho bà X phần đất trên, thì các phần đất trên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 21/5/2004, Ủy ban nhân dân huyện V (nay là huyện H) cấp quyền sử dụng cho hộ ông Nguyễn Văn B (là chồng bà X đã chết 10 năm nay) với diện tích là 4.294m² tại thửa 652-1, 652-2, tờ bản đồ số 07, đất tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Ngày 06/7/2004, vợ chồng bà X bán cho ông Trần Anh D 01 phần đất diện tích 1.300m², nên diện tích còn lại là 2.994m². Ngày 21/10/2018, bà X nhận thừa kế diện tích đất còn lại trên. Từ trước đến nay giữa phần đất của bà X và đất của bà T ở phía sau có ranh là cái bờ ao do bà X quản lý sử dụng, nhưng đến năm 2021 khi bà T xây dựng hàng rào thì xây lấn qua trên phần bờ ao của bà X, nên mới phát sinh tranh chấp. Trước khi bà T làm hàng rào thì có kêu bà X và địa chính xã đến cặm ranh, bà X và bà T đã thống nhất được ranh với nhau. Tuy nhiên, đến khi bà T xây dựng hàng rào lên thì bà T tự ý dời mốc ranh đã thỏa thuận cặm trước đó, lấn qua phần đất của bà X.

Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/11/2023, bà Lâm Thị X yêu cầu bà Đinh Ngọc T trả cho bà X phần đất diện tích 84m², tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Ngày 25/10/2024, bà Lâm Thị X có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện bà Đinh Ngọc T với diện tích 73,6m². Nay bà X yêu cầu bà T tháo dỡ hàng rào trả lại cho bà X phần đất tranh chấp diện tích theo đo đạc thực tế là 10,4m², thuộc thửa 46, tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, bà X không đồng ý nhận giá trị.

* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Đinh Ngọc T trình bày: Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ ruột bà T nhận chuyển nhượng cách đây mấy chục năm (không nhớ rõ bao nhiêu năm vì thời gian quá lâu, lúc đó bà T còn nhỏ nên không nhớ), cha mẹ bà T quản lý sử dụng cho đến khoảng năm 2019 thì chết, nên chuyển thừa kế sang cho bà T, bà T quản lý sử dụng cho đến nay. Từ trước đến năm 2021 phần đất tranh chấp là phần đất trống không ai sử dụng. Đến năm 2021, bà T tiến hành xây hàng rào cột bê tông và dây chì gai trên đó, khi bà T xây dựng hàng rào, thì bà X yêu cầu bà T xây dời vô trong phần đất của bà T thêm một đoạn (chính xác bao nhiêu bà T không biết), do nghĩ hàng xóm với nhau không đáng kể bao nhiêu, đồng thời do muốn xây dựng hàng rào cho xong, nên bà T có mời địa chính xã V và cán bộ tư pháp đến chứng kiến việc xác định ranh giữa bà T và bà X, thì địa chính mới cặm lại ranh theo chỉ ranh của bà X, các bên thống nhất hết thì bà T mới xây hàng rào. Tuy nhiên, sau khi bà T xây hàng rào được khoảng 02 năm, thì bà X lại cho rằng bà T xây hàng rào lấn đất bà X và khởi kiện ra Tòa án. Hiện nay phần đất tranh chấp nằm trong phần đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành CV 672836, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS01418 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Đinh Ngọc T ngày 25/5/2020, đối với phần đất diện tích 5.256m², thuộc thửa đất số 651, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Hiện nay bà T đang trực tiếp quản lý sử dụng phần đất tranh chấp trên, ngoài ra không còn ai khác. Năm 2021, khi bà T xây dựng hàng rào cũng có sự chứng kiến của chính quyền địa phương và bà X, chính bà X là người chỉ ranh và thống nhất ranh giới đất hai bên xong thì bà T mới xây hàng rào.

Nay bà X khởi kiện yêu cầu bà T di dời hàng rào, trả cho bà X phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế là 10,4m², thuộc thửa 46, tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu thì bà T đồng ý, tuy nhiên bà T yêu cầu bà X tự di dời hàng rào, bà không đồng ý di dời hàng rào. Ngoài ra không còn ý kiến nào khác.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát không có kiến nghị gì.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị X đối với bà Đinh Ngọc T về việc yêu cầu bà T trả quyền sử dụng đất diện tích 73,6m² tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị X về việc yêu cầu bà Đinh Ngọc T di dời hàng rào và trả lại phần đất tranh chấp diện tích 10,4m², thuộc một phần thửa 46, tờ bản đồ số 10 (thửa 652, tờ bản đồ số 07 cũ) tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch bà Đinh Ngọc T phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và quan điểm phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu. Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ kiện như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Lâm Thị X khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Đinh Ngọc T trả cho bà phần đất theo đo đạc thực tế là 10,4m² tọa lạc ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu và di dời hàng rào trên đất tranh chấp, nên đây là tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Phần đất tranh chấp tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, do đó Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về thủ tục tiền tố tụng (hòa giải cơ sở): Các bên đương sự có tranh chấp quyền sử dụng đất. Tại biên bản hòa giải tại Ủy ban dân dân xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu ngày 28/4/2023 đã đảm bảo về thành phần và nội dung hòa giải cơ sở theo quy định của pháp luật đất đai.

[1.3] Về phạm vi xét xử của vụ án: Tại đơn khởi kiện bà X yêu cầu bà T trả lại quyền sử dụng đất diện tích khoảng 84m² tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Sau khi đo đạc thực tế và quá trình giải quyết vụ án phía nguyên đơn xác định yêu cầu bà T trả cho bà X phần diện tích đất theo đúng đo đạc thực tế là 10,4m², thuộc thửa số 46, tờ bản đồ số 10 (thửa 652 tờ bản đồ số 07 cũ), đất tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu có tứ cạnh như sau:

  • - Cạnh hướng Đông giáp kênh C Phật có số đo 0,36m.
  • - Cạnh hướng Tây giáp thửa số 61, tờ bản đồ số 10, giáp phần đất bà Lâm Thị X đang quản lý sử dụng, giáp đất bà Đinh Ngọc T đang quản lý, sử dụng có số đo 0m;
  • - Cạnh hướng Nam giáp đất bà Đinh Ngọc T đang quản lý, sử dụng có số đo 58,47m;
  • - Cạnh hướng Bắc giáp đất bà Lâm Thị X đang quản lý, sử dụng có số đo 58,48m.

Như vậy yêu cầu khởi kiện của bà X là trong phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên được chấp nhận.

Bị đơn không có yêu cầu phản tố do đó phạm vi khởi kiện trong vụ án này là yêu cầu khởi kiện của bà X như đã nêu trên.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Căn cứ biên bản xem xét thẩm định tại chỗ đất tranh chấp ngày 12/12/2023 và bản vẽ mặt bằng hiện trạng sử dụng đất tranh chấp của Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên và Môi trường tỉnh B thể hiện: Phần đất tranh chấp giữa nguyên đơn bà Lâm Thị X với bị đơn là bà Đinh Ngọc T phần diện tích 10,4m², thuộc thửa số 46, tờ bản đồ số 10 (thửa 652 tờ bản đồ số 07 cũ), đất tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu có vị trí, tứ cạnh như sau:

  • - Cạnh hướng Đông giáp kênh C Phật có số đo 0,36m.
  • - Cạnh hướng Tây giáp thửa số 61, tờ bản đồ số 10, giáp phần đất bà Lâm Thị X đang quản lý sử dụng, giáp đất bà Đinh Ngọc T đang quản lý, sử dụng có số đo 0m;
  • - Cạnh hướng Nam giáp đất bà Đinh Ngọc T đang quản lý, sử dụng có số đo 58,47m;
  • - Cạnh hướng Bắc giáp đất bà Lâm Thị X đang quản lý, sử dụng có số đo 58,48m.

Hiện trạng trên đất có 28 trụ bê tông có kích thước 10m x 10m x 1,8m, kéo dây kẽm gai từ đầu trụ đến chân trụ 05 sợi dài theo chiều dài đặt trụ được xây dựng năm 2021.

Căn cứ biên bản định giá tài sản tranh chấp ngày 13/12/2024 có kết quả định giá như sau:

  • - Phần đất diện tích 10,4m² thuộc thửa 46, tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Có giá là 66.000đ/m2. Tổng giá trị là: 10,4m² x 66.000đ = 686.400 đồng.
  • - Tài sản trên đất gồm: 28 trụ bê tông có kích thước 10m x 10m x 1,8m
  • Kéo dây kẽm gai từ đầu trụ đến chân trụ 05 sợi dài theo chiều dài đặt trụ, xây dựng năm 2021. Có tổng giá trị là 7.885.000 đồng.

[2.2] So với kết quả đo đạc thực tế thì diện tích đất tại đơn khởi kiện nhiều hơn 73,6 m², phía nguyên đơn bà Lâm Thị X xác định rút yêu cầu khởi kiện đối với phần chênh lệch này. Xét thấy đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này.

[2.3] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị X khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Đinh Ngọc T tháo dỡ, di dời hàng rào để trả cho bà phần đất theo đo đạc thực tế là 10,4m², thuộc thửa số 46, tờ bản đồ số 10 (thửa 652 tờ bản đồ số 07 cũ), đất tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.3.1] Xét về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất: Nguyên đơn bà Lâm Thị X xác định phần đất tranh chấp có nguồn gốc do vợ chồng bà X nhận chuyển nhượng của ông Bảy Ư cách đây khoảng 40 năm và nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà, còn bị đơn bà Đinh Ngọc T xác định phần đất tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ ruột bà T nhận chuyển nhượng cách đây mấy chục năm (không nhớ cụ thể), do cha mẹ bà T quản lý sử dụng cho đến khoảng năm 2019 thì chuyển thừa kế sang cho bà T và bà T quản lý sử dụng cho đến nay và nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà.

Cả nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất xác định phần đất tranh chấp trước đây là đất trống, là bờ ao nằm giữa phần đất bà X và bà T và do bà X quản lý, sử dụng, bà T không có quản lý, sử dụng. Năm 2021 bà T xây dựng hàng rào nằm trên đất tranh chấp và quản lý, sử dụng cho đến năm 2023 thì phát sinh tranh chấp nên căn cứ Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự đây là tình tiết không phải chứng minh.

[2.3.2] Căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ 03704 QSDĐ/2448/2004 do UBND huyện V (nay là huyện H) cấp cho hộ ông Nguyễn Văn B ngày 21/5/2004 và được đăng ký biến động chuyển thừa kế cho bà Lâm Thị X ngày 21/10/2015 đối với phần đất diện tích 2.994m² thuộc thửa số 652, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành số CV672836, có số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS01419 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Đinh Ngọc T ngày 25/5/2020 đối với phần đất diện tích 5.256m² thuộc thửa số 651, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu và Căn cứ kết quả đo đạc theo bản vẽ mặt bằng hiện trạng sử dụng đất của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và Môi trường tỉnh B Hội đồng xét xử nhận thấy:

Phần đất tranh chấp giữa bà X và bà T có diện tích đo đạc thực tế là 10,4m² thuộc thửa 46, tờ bản đồ số 10 (thửa 652, tờ bản đồ số 07 cũ), trong đó: Có 4,2m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ 03704 QSDĐ/2448/2004 cấp cho hộ ông Nguyễn Văn B ngày 21/5/2004 và được đăng ký biến động chuyển thừa kế cho bà Lâm Thị X ngày 21/10/2015; Có 6,2m² thuộc hành lang bảo lưu kênh (nằm ngoài giấy chứng nhận có số vào sổ 03704 QSDĐ/2448/2004). Đối chiếu kết quả đo đạc thực tế với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà X và giấy chứng nhận cấp cho bà T xác định phần diện tích đất tranh chấp 10,4m² nằm hoàn toàn trong thửa đất số 652, tờ bản đồ số 07 là thửa đất từ trước đến nay do bà Lâm Thị X quản lý, sử dụng.

Diện tích bà Đinh Ngọc T đang quản lý sử dụng (chưa bao gồm phần đất tranh chấp) theo đo đạc thực tế là 5.523,2m² đối chiếu với diện tích mà bà T được cấp theo giấy chứng nhận nêu trên là nhiều hơn so với diện tích đất được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà T.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Đinh Ngọc T cũng thừa nhận từ trước đến nay phần đất tranh chấp là đất trống, bà không trực tiếp quản lý dụng, thời điểm năm 2021 khi bà xây dựng hàng rào thì bà có mời bà X ra xác định ranh vì không biết ranh đất của mình ở đâu, đồng thời bà cũng đồng ý di dời hàng rào để trả cho bà X diện tích đất nêu trên.

Từ những căn cứ và nhận định nêu trên đủ cơ sở xác định phần đất tranh chấp diện tích 10,4m² thuộc quyền sử dụng của bà Lâm Thị X.

[2.3.3] Hiện nay trên phần đất tranh chấp có hàng rào do bà T xây dựng vào năm 2021. Xét thấy hàng rào là công trình kiến trúc tạm, giá trị không lớn và có thể di dời được nên cần buộc bà T di dời hàng rào có kết cấu 28 trụ bê tông có kích thước 10m x 10m x 1,8m, kéo dây kẽm gai từ đầu trụ đến chân trụ 05 sợi dài theo chiều dài đặt trụ để trả cho bà X diện tích đất tranh chấp trên là phù hợp.

Từ những nhận định nêu trên có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị X.

[3] Về chi phí tố tụng: Do chấp nhận yêu cầu của bà X nên bà T phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 13.756.433 đồng. Bà X đã nộp và chi xong nên bà T phải hoàn trả cho bà X số tiền là 13.756.433 đồng.

[4] Về án phí dân sự không có giá ngạch: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà X nên bà X không phải chịu án phí. Bà Đinh Ngọc T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

[5] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 92; Điều 157; Điều 158; Điều 184; khoản 2 Điều 244; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26, Điều 31, Điều 236 Luật đất đai năm 2024;

Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 26; điểm a, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị X đối với bà Đinh Ngọc T về việc yêu cầu bà T trả quyền sử dụng đất diện tích 73,6m² tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị X về việc yêu cầu bà Đinh Ngọc T di dời hàng rào và trả lại phần đất tranh chấp diện tích 10,4m², thuộc một phần thửa 46, tờ bản đồ số 10 (thửa 652, tờ bản đồ số 07 cũ) tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
  3. Buộc bà Đinh Ngọc T tháo dỡ, di dời hàng rào nằm trên phần đất tranh chấp để trả cho bà Lâm Thị X phần đất tranh chấp diện tích 10,4m², thuộc thửa số 46, tờ bản đồ số 10 (thửa 652 tờ bản đồ số 07 cũ), đất tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu có vị trí, tứ cạnh như sau:
    • - Cạnh hướng Đông giáp kênh C Phật có số đo 0,36m.
    • - Cạnh hướng Tây giáp thửa số 61, tờ bản đồ số 10, giáp phần đất bà Lâm Thị X đang quản lý sử dụng, giáp đất bà Đinh Ngọc T đang quản lý, sử dụng có số đo 0m;
    • - Cạnh hướng Nam giáp đất bà Đinh Ngọc T đang quản lý, sử dụng có số đo 58,47m;
    • - Cạnh hướng Bắc giáp đất bà Lâm Thị X đang quản lý, sử dụng có số đo 58,48m.
  4. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 13.756.433 đồng bà Đinh Ngọc T phải chịu. Bà X đã nộp và chi xong, nay buộc bà Đinh Ngọc T hoàn trả cho bà Lâm Thị X số tiền là 13.756.433 đồng.
  5. Về án phí sơ thẩm dân sự không có giá ngạch: Bà Đinh Ngọc T phải chịu 300.000 đồng. Bà Lâm Thị X không phải chịu án phí.
  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • -VKSND huyện Hòa Bình;
  • -CCTHADS huyện Hòa Bình;
  • -Đương sự;
  • -Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/DS-ST ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 06/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà X yêu cầu bà T trả đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger