Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HS-ST

Ngày: 12-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Trung D

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Phước Tâm
  2. Ông Phan Quốc Tiến

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Linh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Ngộ Không - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/HSST-QĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Hoàng G, sinh năm: 1985; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: Tỉnh An Giang; Nơi đăng ký HKTT: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; Chỗ ở: Khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tài xế; Tình độ học vấn: 6/12; Con ông: Phan Văn C, sinh năm: 1961; Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1960; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1989; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con lớn trong gia đình; Tiền sự, Tiền án: Không; Bị cáo khởi tố cho tại ngoại (có mặt tại phiên toà).

* Bị hại:

  • - Huỳnh Xuân Đ, sinh năm 1972; Địa chỉ: Khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang.
  • - Nguyễn Thị N, sinh năm 1978 (đã chết). Hàng thừa kế thứ nhất của Nguyễn Thị N gồm:
    • Huỳnh Xuân Đ, sinh năm 1972;
    • Huỳnh Minh T, sinh năm 1997;
    • Huỳnh Đông N1, sinh năm 2004;

Cùng địa chỉ: Khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang.

Đại diện theo ủy quyền của Huỳnh Xuân Đ, Huỳnh Đông N1 là Huỳnh Minh T, sinh năm 1997; Địa chỉ: Khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • - Nguyễn Thị Minh T1, sinh năm 1971; Địa chỉ: khóm P, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).

* Người làm chứng:

  • - Nguyễn Thị H, sinh năm 1989; Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Phan Hoàng G bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 18 giờ ngày 28/4/2024, Phan Hoàng G có giấy phép lái xe hạng C theo quy định, điều khiển xe ô tô tải biển số 67H -023.03 lưu thông trên Quốc lộ C hướng A đi cầu vượt C, khi đi đến đường D thuộc ấp A, xã A, huyện C thì xe ô tô tải của G chạy vượt lấn vào phần đường xe mô tô biển số 67C1 – 591.94 do ông Huỳnh Xuân Đ, sinh năm 1972 chở bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1978 điều khiển cùng chiều bên phải phía trước, dẫn đến chắn bùn bánh trước xe ô tô tải va chạm vào tay cầm lái bên trái của xe ông Đ làm xe mô tô cùng ông Đ, bà N té ngã xuống mặt đường bị xe ô tô tải chèn qua người tử vong tại hiện trường, ông Đ bị thương tích nhẹ, hai xe bị hư hỏng nhẹ; vụ việc sau đó được chuyển đến Công an huyện C thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ:

  • + Xe mô tô biển số 67C1 – 591.94 cùng giấy đăng ký xe mang tên Huỳnh Xuân Đ.
  • + Xe ô tô tải biển số 67H – 023.03 cùng giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị Minh T1; giấy chứng nhận kiểm định xe.
  • + Giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Phan Hoàng G có giá trị đến ngày 12/4/2028.

Qua công tác khám nghiệm hiện trường xác định đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường cong, có vạch đơn liền nét phân chia thành hai làn đường xe ô tô và mô tô, làn đường xe mô tô rộng 2,5 mét, làn đường xe ô tô rộng 5,2 mét. Lấy lề phải hướng Quốc lộ C đi Quốc lộ N làm mét đường chuẩn xuất định vùng va chạm kích thước 0,50 x 0,50m, cách lề chuẩn là 1,90 mét.

Ngày 13/5/2024, Phòng K Công an tỉnh Đ đã giám định và kết luận số 594/KL-GĐTT-KTHS về nguyên nhân tử vong của bà Nguyễn Thị N là bị ngoại lực tác động mạnh gây chấn thương bụng kín làm vỡ đa tạng, bị xuất huyết ổ bụng.

Qua kết quả kiểm tra nồng độ cồn đối với Phan Hoàng G không thể hiện chỉ số theo quy định.

Qua điều tra, Phan Hoàng G thừa nhận điều khiển xe ô tô tải vượt và lấn vào phần đường xe mô tô của ông Đ chở bà N dẫn đến va chạm gây tai nạn. Hành vi của Phan Hoàng G đã vi phạm vào khoản 1 Điều 9, Điều 14 Luật giao thông đường bộ.

Ngày 27/01/2024, Phan Hoàng G và bà Nguyễn Thị Minh T1 đại diện chủ xe ô tô tải đã thõa thuận bồi thường trách nhiệm dân sự cho đại diện bị hại số tiền 258.000.000đồng. Bị can G và bà T1 đồng ý và đã giao tiền xong, được đại diện hợp pháp của bị hại xin bãi nại.

Quá trình điều tra xác định xe mô tô biển số 67C1 – 591.94 của ông Huỳnh Xuân Đ; xe ô tô tải biển số 67H – 023.03 do bà Nguyễn Thị Minh T1 đứng tên sở hữu. Hiện xe mô tô và ô tô chỉ bị hư hỏng nhẹ, không ai yêu cầu gì nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại các phương tiện cùng giấy đăng ký xe, giấy kiểm định cho ông Đ và bà T1 xong.

Tại Cáo trạng số 52/CT-VKSHCL ngày 30/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Phan Hoàng G về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo G, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Phan Hoàng G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phan Hoàng G với mức án 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm.
  • - Về hình phạt bổ sung đề nghị cấm hành nghề lái xe ô tô đối với bị cáo Phan Hoàng G từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, giữa bị cáo G với đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong.
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị giống như bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, bị cáo Phan Hoàng G đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận, đối đáp gì. Bị cáo G nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chăm sóc cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Phan Hoàng G đã thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 52/CT-VKSHCL ngày 30/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo. Chính bị cáo Phan Hoàng G thực hiện, do bị cáo Phan Hoàng G điều khiển xe ô tô tải biển số 67H - 023.03 lưu thông trên Quốc lộ C đi Quốc Lộ N, khi đi đến ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp thì G điều khiển xe vượt, lấn làn va chạm vào xe mô tô biển số 67C1 – 591.94 do ông Huỳnh Xuân Đ chở bà Nguyễn Thị N đang điều khiển cùng chiều bên phải phía trước, hậu quả bà N tử vong, xe mô tô, ô tô bị hư hỏng nhẹ, xảy ra vào khoảng 18 giờ ngày 28/4/2024.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng biên bản hiện trường xảy ra vụ tai nạn, kết luận giám định pháp y về tử thi và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo Phan Hoàng G đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại Điều 260 khoản 1 điểm a Bộ luật hình sự có quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người...

[3] Xét hành vi của bị cáo Phan Hoàng G, khi thực hiện tội phạm, bị cáo là người đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bản thân bị cáo đã học tập và được cấp giấy phép lái xe theo quy định nhưng bị cáo điều khiển xe không tuân thủ đúng quy định của pháp luật về giao thông đường bộ, cụ thể là bị cáo đã điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn. Đây là nguyên nhân chính gây ra vụ tai nạn giao thông như đã nêu trên.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tâm lý người dân khi tham gia giao thông, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Do vậy, đối với bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo G đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi sự việc xảy ra thì bị cáo đã thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả cho phía gia đình của bị hại xong và được người đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Về nhân thân bị cáo xuất thân là thành phần nhân dân lao động, hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn về kinh tế có xác nhận của chính quyền địa phương đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét thấy, bị cáo G có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng, là lao động chính trong gia đình, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và không có tình tiết tăng nặng, đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam mà chỉ áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo. Đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo học tập, lao động để trở thành công dân tốt và là người có ích cho gia đình, xã hội.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả xong, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm bất cứ khoản nào phù hợp theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề để xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với giấy phép lái xe hạng C mang tên Phan Hoàng G xét thấy trả lại cho bị cáo Phan Hoàng G.

(Hiện vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh đang quản lý).

Đối với xe mô tô biển số 67C1 – 591.94 của ông Huỳnh Xuân Đ; xe ô tô tải biển số 67H – 023.03 do bà Nguyễn Thị Minh T1 đứng tên sở hữu. Hiện xe mô tô và ô tô chỉ bị hư hỏng nhẹ, không ai yêu cầu gì nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại xe mô tô biển số 67C1 – 591.94 cho ông Đ; trả lại xe ô tô tải biển số 67H – 023.03 cùng giấy đăng ký xe, giấy kiểm định cho bà T1 xong là phù hợp.

[8] Về án phí: Bị cáo Phan Hoàng G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

[9] Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5, Điều 260 Bộ luật hình sự để phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo G.

[10] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát huyện C về tội danh, khung hình phạt của tội danh, mức hình phạt, hình phạt bổ sung, vật chứng. Hội đồng xét xử xét thấy là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Phan Hoàng G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Phan Hoàng G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 12/02/2025).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo G.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Phan Hoàng G cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp đang trong thời gian thử thách án treo mà bị cáo Phan Hoàng G tội mới, thì Tòa án buộc bị cáo Phan Hoàng G phải chấp hành bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định của Điều 56 bộ luật hình sự.

Trong trường hợp bị cáo Phan Hoàng G thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả xong nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trả lại cho bị cáo G giấy phép lái xe hạng C mang tên Phan Hoàng G.

(Hiện vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Buộc bị cáo Phan Hoàng G phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 6 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cấm bị cáo Phan Hoàng G hành nghề lái xe ô tô 02 (hai) năm kề từ ngày tuyên án (12/02/2025).

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Trung Dũng

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Cao Lãnh;
  • - CQCSĐT - CAHCL;
  • - CQTHAHS&HTTP- CAHCL;
  • - THADS huyện Cao Lãnh;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VPTA & hồ sơ vụ án.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TRÍCH LỤC BẢN ÁN HÌNH SỰ

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2025/HSST ngày 12 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đã xử:

Họ và tên: Phan Hoàng G, sinh năm: 1985; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: Tỉnh An Giang; Nơi đăng ký HKTT: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; Chỗ ở: Khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tài xế; Tình độ học vấn: 6/12; Con ông: Phan Văn C, sinh năm: 1961; Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1960; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1989; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con lớn trong gia đình; Tiền sự, Tiền án: Không; Bị cáo khởi tố cho tại ngoại.

* Bị hại:

  • - Huỳnh Xuân Đ, sinh năm 1972; Địa chỉ: Khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang.
  • - Nguyễn Thị N, sinh năm 1978 (đã chết). Hàng thừa kế thứ nhất của Nguyễn Thị N gồm:
    • Huỳnh Xuân Đ, sinh năm 1972;
    • Huỳnh Minh T, sinh năm 1997;
    • Huỳnh Đông N1, sinh năm 2004;

Cùng địa chỉ: Khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang.

Đại diện theo ủy quyền của Huỳnh Xuân Đ, Huỳnh Đông N1 là Huỳnh Minh T, sinh năm 1997; Địa chỉ: Khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • - Nguyễn Thị Minh T1, sinh năm 1971; Địa chỉ: khóm P, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Phan Hoàng G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Phan Hoàng G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 12/02/2025).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo G.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Phan Hoàng G cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp đang trong thời gian thử thách án treo mà bị cáo Phan Hoàng G tội mới, thì Tòa án buộc bị cáo Phan Hoàng G phải chấp hành bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định của Điều 56 bộ luật hình sự.

Trong trường hợp bị cáo Phan Hoàng G thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả xong nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trả lại cho bị cáo G giấy phép lái xe hạng C mang tên Phan Hoàng G.

(Hiện vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Buộc bị cáo Phan Hoàng G phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 6 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cấm bị cáo Phan Hoàng G hành nghề lái xe ô tô 02 (hai) năm kề từ ngày tuyên án (12/02/2025).

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Thành viên Hội đồng xét xử

(đã ký)

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

10

Phạm Phước T2 – P

Huỳnh Trung D

Để thi hành

C, ngày 17 tháng 3 năm 2025

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH

Thẩm phán

Huỳnh Trung D

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Phước T2 – Nguyễn Thị P

Huỳnh Trung D

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vi phạm giao thông
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger