|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE Bản án số: 06/2025/HNGĐ - ST Ngày: 10/02/2025 V/v "Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đỉnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Hiếu Trung
- Bà Phạm Thị Thu Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre: Ông Phan Trọng Thế – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 283/2024/TLST-HN ngày 08 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 311/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số: 221/2025/QĐST-HN ngày 10 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 1998 (xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre
Bị đơn: Lê Văn T, sinh năm 1988 (vắng mặt không lý do)
Địa chỉ: ấp T, xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/7/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Y trình bày:
Về hôn nhân: Trên cơ sở tự tìm hiểu quen biết nhau trước chị Nguyễn Thị Ngọc Y và anh Lê Văn T tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 07/9/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do thường hay tranh cãi, bất đồng quan điểm sống dẫn đến không còn hạnh phúc, vợ chồng đã cố gắng để hàn gắn tình cảm để chung sống nhưng không có kết quả. Chị Nguyễn Thị Ngọc Y vẫn yêu cầu xin ly hôn với anh Lê Văn T.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung cháu Lê Quang M, sinh ngày 01/9/2020 hiện nay cháu đang sống với chị Y; chị Y yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu M, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng.
Về tài sản chung: không có
Về nợ chung: không có.
Anh Lê Văn T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán trong quá trình thụ lý vụ án và giải quyết đúng quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của hội đồng xét xử tại phiên tòa đúng quy định của pháp luật.
Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn trong quá trình thụ lý và giải quyết thực hiện đúng quy định của pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đúng
Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc Y, Chị Y được ly hôn với anh T. Về con chung: cháu Lê Quang M, sinh ngày 01/9/2020 Chị Y tiếp tục nuôi dưỡng cháu Lê Quang M, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Y không yêu cầu cấp dưỡng. Tài sản chung, nợ chung chị Y trình bày không có, anh T không ý kiến nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:uNHADDNHẬN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc nhận định:
Chị Nguyễn Thị Ngọc Y có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Yến
Anh Lê Văn Túy đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T.
[1] Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Nguyễn Thị Ngọc Y và anh Lê Văn T là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu thì bắt đầu mất hạnh phúc. Nguyên nhân mất hạnh phúc theo chị Y trình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường hay tranh cãi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể nào hàn gắn để tiếp tục chung sống. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án chị Y và anh T vẫn không biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng trở về chung sống, chị Y vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với anh T. Chị Y đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong hồ sơ vụ án và hòa giải nhưng anh T vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử xét thấy anh T không có thiện chí đến Tòa án hòa giải để về đoàn tụ xây dựng gia đình hạnh phúc. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Y và anh T không khắc phục được, mục đích hôn nhân giữa chị Y, anh T không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc Y là có căn cứ.
Về con chung: Cháu Lê Quang M, sinh ngày 01/9/2020 Chị Y tiếp tục nuôi dưỡng cháu Lê Quang M, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Y không có yêu cầu cấp dưỡng.
Tài sản chung; nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc Y trình bày không có tài sản chung và không có nợ ai, anh Lê Văn T không có ý kiến nên không xem xét. Nếu các bên có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác.
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, chị Nguyễn Thị Ngọc Y phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc Y
- Về nuôi con chung: Cháu Lê Quang M, sinh ngày 01/9/2020 Chị Y tiếp tục nuôi dưỡng cháu Lê Quang M, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Y không có yêu cầu cấp dưỡng nếu các bên có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ kiện khác.
- Về chia tài sản; nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc Y trình bày không có tài sản chung và không có nợ ai, anh Lê Văn T không có ý kiến nên không xem xét. Nếu các bên có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc Y phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Y đã nộp theo biên lai thu số 0004479 ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc.
Chị Nguyễn Thị Ngọc Y được ly hôn với anh Lê Văn T
Các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Đỉnh |
Bản án số 06/2025/HNGĐ - ST ngày 10/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 06/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Yến xin ly hôn với anh Túy
