Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HOA LƯ

TỈNH NINH BÌNH

Bản án số: 06/2025/HS-ST

Ngày: 07 - 02 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Vũ Thị Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Quách Thị Thu Hương - Giáo viên nghỉ hưu tại phường Ninh Sơn, thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
  2. Bà Hoàng Thị Kim Phượng - Cán bộ hưu trí phường Ninh Phong, thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

- Thư ký phiên toà: bà Bùi Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư tham gia phiên toà: ông Nguyễn Văn Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 65/2024/TL-STHS ngày 31 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T sinh ngày 20/11/2007 tại Ninh Bình (tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 02 tháng 18 ngày); nơi cư trú: thôn Đ, xã N, huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: - Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 09/5/2024, Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong bản án ngày 25/7/2024;

- Quyết định số 142/QĐ-XPHC ngày 14/10/2023, Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính, phạt “Cảnh cáo” về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bị tạm giữ từ ngày 10/11/2024 đến ngày 14/11/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N, (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: ông Nguyễn Văn L sinh năm 1981; nơi cư trú: thôn Đ, xã N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình, (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: bà Ngô Thị L1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N, (có mặt).

Bị hại: anh Vũ Huy Q sinh năm 1993, nơi cư trú: thôn V, xã N, huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).

Người làm chứng: anh Phạm Văn V, anh Lương Đình H1, anh Trịnh Danh T1, anh Mai Văn N, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T là người chưa thành niên, mới chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/7/2024 về tội “Trộm cắp tài sản”. Khoảng 04 giờ ngày 09/11/2024, khi đang chơi ở nhà chú họ là anh Phạm Văn V sinh năm 1988, ở thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình cùng với bạn là anh Trịnh Danh T1 sinh năm 1988, trú tại thôn H, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình thì T mượn xe môtô nhãn hiệu Suzuki Viva, màu xanh, biển kiểm soát 35F1-0342 của anh T1 và nói đi ra quán tạp hóa mua đồ. Sau đó, T điều khiển xe môtô đi thẳng đến xưởng đá của anh Vũ Huy Q sinh năm 1993, ở thôn V, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình mục đích để trộm cắp tài sản. Đến nơi, T quan sát thấy không có ai trông coi nên đã dựng xe môtô bên ngoài cạnh xưởng đá rồi đi bộ vào trong xưởng thì nhìn thấy ở gần giữa xưởng có một 01 chiếc hòm bằng sắt được khóa bằng khóa móc V. Do không mang theo công cụ phá khoá nên T đã lấy 01 chiếc xà cầy bằng sắt màu đen dài 40 cm, đường kính 02cm, có hai đầu dẹt ở khu vực đặt máy CNC ở cuối xưởng để bẩy phá ổ khóa, sau đó T vứt xà cầy và ổ khóa xuống đất chỗ hòm sắt. T mở hòm sắt lấy 03 máy mài góc nhãn hiệu Makita, công suất 2200W, màu xanh đen và 01 máy mài khuôn nhãn hiệu Makita, công suất 400W, màu xanh đen rồi mang ra xe môtô chở về nhà của anh Phạm Văn V cất giấu. Lúc này, T gặp anh V thì anh V hỏi “Lấy ở đâu vậy?”. Do sợ anh V biết đó là tài sản trộm cắp nên T nói với anh V là “Nhặt được ở đường” và nhờ anh V bán hộ, anh V trả lời “Để tao bảo thằng này lên xem thế nào” rồi sử dụng điện thoại di động gọi điện cho một người đàn ông tên H2 không rõ lai lịch, địa chỉ và hẹn anh H2 đến nhà anh V để xem máy mài mà T nhờ bán. Sau đó, T đi sang sân nhà bà Nguyễn Thị T2 sinh năm 1957 ở cùng thôn là mẹ đẻ của anh V lấy chiếc bao tải ở sân mang về nhà anh V và bỏ 04 chiếc máy mài trộm cắp được vào trong bao tải. Khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, anh H2 đến nhà anh V và gặp T, tại đây anh H2 đến mở bao tải xem 04 chiếc máy mài và hỏi T “Bán bao nhiêu đấy?”, T nói “Anh trả được bao nhiêu thì trả”, anh H2 nói tiếp “Một triệu rưỡi nhé”, nghe thấy vậy T đồng ý và nhờ anh H2 chuyển trả số tiền 1.500.000 đồng vào tài khoản Zalo Play của bạn là anh Đinh Văn T3 sinh năm 1994, trú tại thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình (lúc này anh T3 đang có mặt tại nhà của anh V). Sau khi được anh H2 chuyển trả tiền, T mượn điện thoại của anh T3 để nạp tiền vào trò chơi điện tử từ tài khoản Zalo Play của anh T3 hết 1.050.000 đồng, sau đó T cầm theo điện thoại của anh T3 đi ra quán tạp hóa của ông Lương Đình Hữu S năm 1949 ở thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình để chuyển từ tài khoản Z đổi lấy 410.000 đồng tiền mặt và đã tiêu xài cá nhân hết số tiền trên. Khoảng 07 giờ ngày 09/11/2024, anh Vũ Huy Q đến xưởng đá thì phát hiện bị mất 04 máy mài nên đã kiểm tra dữ liệu trên hệ thống camera lắp đặt tại xưởng đá thì thấy khoảng 04 giờ 10 phút cùng ngày có một nam thanh niên lạ mặt đột nhập vào trong xưởng, anh Q đem hình ảnh trên đi hỏi thì được anh Mai Văn N sinh năm 2006, trú tại thôn C, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình nhận ra người đã trộm cắp tài sản là Nguyễn Văn T. Sau đó, anh Q đã đến Công an xã N để trình báo sự việc. Công an xã N đã lập biên bản vụ việc, vẽ sơ đồ nơi xảy ra vụ việc, lấy lời khai bị hại. Ngày 09/11/2024, Nguyễn Văn T đã đến Công an xã N để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Ngày 10/11/2024, Công an xã N chuyển hồ sơ vụ việc trên đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tổ chức khám nghiện hiện trường thu giữ tại hiện trường: 01 thanh xà cầy bằng sắt dài 40cm, đường kính 02cm, hai đầu dẹt, đã qua sử dụng; 01 (một) ổ khóa nhãn hiệu Việt Tiệp màu đen, phần lẫy khóa bị gãy.

- Ngày 15/12/2024, anh Phạm Văn V đã đến Công an huyện H tự nguyện giao nộp 03 chiếc máy mài góc nhãn hiệu Makita, công suất 2200W, màu xanh đen và 01 chiếc máy mài khuôn, nhãn hiệu Makita, công suất 400W, màu xanh đen cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H và khai báo 04 chiếc máy trên ngày 14/12/2024 anh H2 đem đến nhà anh V để trả lại cho anh T nhưng do không gặp anh T nên anh H2 đã để lại 04 chiếc máy trên tại nhà của anh V. Do vậy, anh V đã giao nộp 04 máy mài trên cho Cơ quan điều tra.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGTS ngày 12/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận tổng giá trị của 03 chiếc máy mài góc nhãn hiệu Makita, công suất 2200W, màu xanh đen và 01 chiếc máy mài khuôn, nhãn hiệu Makita, công suất 400W, màu xanh đen là 6.860.000 đồng (sáu triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng).

- Ngày 20/11/2024, anh Vũ Huy Q đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H: 01 chiếc USB nhãn hiệu Kingston lưu trữ 02 tệp tin video; ngày 22/11/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành trích xuất 03 tệp tin video từ hệ thống camera an ninh của gia đình anh Nguyễn Ngọc H3 sinh năm 1982, trú tại thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình được lắp đặt quay về phía nhà ở của anh Phạm Văn V liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản của bị can Nguyễn Văn T. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã gửi 02 (hai) tệp tin video do anh Vũ Huy Q giao nộp và 03 tệp tin video trích xuất từ hệ thống camera an ninh của gia đình anh Nguyễn Ngọc H3 gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 82/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 26/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N Kết luận đối với 05 (năm) tệp tin video trên với nội dung: “Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 05 (năm) tệp tin video gửi giám định”.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSHL ngày 31/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình truy tố Nguyễn Văn T ra trước Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91, 101 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 10/11/2024.

- Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự buộc Nguyễn Văn T nộp lại số tiền 1.500.000 đồng để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

- Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận các tình tiết của vụ án đúng như nội dung bản cáo trạng. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T xác định: Việc truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Ngoài ra, người bào chữa còn phân tích về tính chất mức độ của hành vi phạm tội; về nguyên nhân, hoàn cảnh phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91, 101 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến gì về việc truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không có tranh luận gì với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai tại phiên tòa và tại Cơ quan điều tra của bị cáo Nguyễn Văn T đúng như nội dung của bản cáo trạng; phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; phù hợp với vật chứng đã thu giữ là 03 chiếc máy mài góc nhãn hiệu Makita, 01 chiếc máy mài khuôn nhãn hiệu Makita và các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Với các chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 04 giờ 10 phút ngày 09/11/2024 tại xưởng đá của anh Vũ Huy Q ở thôn V, xã N, huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình. Nguyễn Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 03 chiếc máy mài góc nhãn hiệu Makita, công suất 2200W, màu xanh đen và 01 chiếc máy mài khuôn, nhãn hiệu Makita, công suất 400W, màu xanh đen có tổng trị giá 6.860.000 đồng của anh Vũ Huy Q bị phát hiện bắt giữ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật công nhận, bảo vệ. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

................................................

Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư (nay là thành phố H) truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2] Hành vi của bị cáo là ít nghiêm trọng. Ngoài xâm hại đến khách thể được luật hình sự bảo vệ, hành vi của bị cáo còn gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Để bảo vệ trật tự xã hội, có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung thì việc truy tố, đưa ra xét xử và buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là cần thiết.

[3] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo có nhân thân xấu, năm 2023 bị xử lý hành chính, năm 2024 bị xử lý hình sự về hành vi “Trộm cắp tài sản”; được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội thành khẩn khai báo và sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đã đến Cơ quan công an đầu thú, quy định tại s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt: căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo học tập, lao động, cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên áp dụng những quy định đối với người dưới 18 phạm tội tại chương XII của Bộ luật Hình sự để xử lý bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã thu giữ và trả lại cho bị hại là anh Vũ Huy Q 03 chiếc máy mài góc nhãn hiệu Makita, công suất 2200W, màu xanh đen và 01 chiếc máy mài khuôn, nhãn hiệu Makita, công suất 400W, màu xanh đen là những tài sản mà Nguyễn Văn T đã trộm cắp của anh Q, anh Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì. Vì vậy, về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

- 01 chiếc xà cầy bằng sắt màu đen Nguyễn Văn T sử dụng để bẩy phá ổ khóa hòm sắt và 01 ổ khóa là của anh Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ và trả lại cho anh Q là có căn cứ đúng pháp luật.

- Số tiền 1.500.000 đồng Nguyễn Văn T bán tài sản trộm cắp cho người đàn ông tên H2 không rõ lai lịch, địa chỉ mà có cần buộc Nguyễn Văn T nộp lại để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[7] Những vấn đề khác:

- Đối với anh Phạm Văn V: ngày 09/11/2024, sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Nguyễn Văn T đã đem 04 chiếc máy mài trộm cắp được về nhà anh V để nhờ anh V bán giúp, sau đó anh V đã gọi điện cho người đàn ông tên H2 và hẹn anh H2 đến nhà anh V để gặp và trao đổi với Nguyễn Văn T về việc mua bán 04 chiếc máy trên, anh V không biết những tài sản này là do bị cáo Nguyễn Văn T trộm cắp mà có. Sau khi anh H2 đem trả lại 04 chiếc máy và để lại tại nhà của mình, anh V đã chủ động đem 04 chiếc máy trên giao nộp cho Cơ quan điều tra. Do đó, hành vi của anh V không cấu thành tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự.

- Đối với anh Trịnh Danh T1: ngày 09/11/2024, khi anh T1 đang chơi ở nhà anh Phạm Văn V ở thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình cùng với Nguyễn Văn T thì Nguyễn Văn T mượn xe máy biển kiểm soát 35F1-0342 của anh T1 và nói mượn xe đi mua đồ, sau đó Nguyễn Văn T điều khiển xe máy đến xưởng đá của anh Vũ Huy Q để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Khi cho mượn xe, anh T1 không biết việc Nguyễn Văn T mượn xe máy của mình để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do đó, anh T1 không đồng phạm với Nguyễn Văn T trong vụ án này.

- Đối với anh Đinh Văn T3 là người cho Nguyễn Văn T mượn điện thoại để người có tên là H2 chuyển tiền trả mua 04 chiếc máy và ông Lương Đình H1 là chủ quán tạp hóa là người cho Nguyễn Văn T chuyển đổi tiền mặt, nhưng anh T3 và ông H1 không biết tiền là do Nguyễn Văn T trộm cắp tài sản mà có nên không có lỗi.

- Đối với người mua 04 chiếc máy mài của Nguyễn Văn T vào ngày 09/11/2024 mà anh Phạm Văn V khai báo có tên là H2, nhưng anh V không biết cụ thể lai lịch địa chỉ của người có tên là H2. Do không xác định được thông tin lai lịch của đối tượng H2 nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để tiến hành triệu tập, đấu tranh làm rõ.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 10/11/2024.

2. Biện pháp tư pháp: buộc bị cáo Nguyễn Văn T nộp lại số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

3. Về án phí: buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa của bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày; người có mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo kể từ ngày tuyên án (07/02/2025), người vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người ĐDHP của bị cáo;
  • - Người bào chữa cho bị cáo;
  • - VKSND TP. Hoa Lư;
  • - CA TP. Hoa Lư;
  • - THADS TP. Hoa Lư;
  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - Lưu VP, HS.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Thành phạm tội Trộm cáp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger