|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG TỈNH ĐẮK NÔNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày: 07/02/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thắm.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Thanh Huệ và ông Nguyễn Hữu Lõi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Linh Ngân - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 04/2025/HSST-QĐ ngày 08 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Điểu L, sinh năm 2002 tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: Bon Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Không ổn định; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: M'Nông; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Điểu Q (đã chết) và bà Thị D, sinh năm 1976; chưa có vợ, con; nhân thân: Ngày 22/4/2021 bị Công an huyện T, tỉnh Đắk Nông ra Quyết định xử phạt hành chính số 274/QĐ-XPHC về hành vi Trộm cắp tài sản và sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 3.000.000đ, chưa chấp hành hình phạt do Công an huyện T chưa giao quyết định (được coi là chưa có tiền sự); ngày 03/6/2024 thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản, ngày 26/9/2024 bị Toà án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/6/2024; hiện đang thi hành hình phạt tù tại Trại giam Đ, thuộc huyện M'Đrắk, tỉnh Đắk Lắk theo Quyết định thi hành hình phạt tù số: 160/2024/QĐ-CA ngày 28/10/2024 của Chánh án Toà án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông – có mặt.
Bị hại: Bà Đinh Thị T, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Phạm Công D1, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.
Chị Phạm Nhật L1, sinh năm 2005; nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 23/3/2024, Điểu L cùng Hàn Xác P (tên thường gọi là Ú, sinh năm 1993, hộ khẩu thường trú tại xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai) rủ nhau điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu xanh trắng (không rõ biển kiểm soát) đi từ huyện T đến huyện Đ tìm kiếm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày, P điều khiển xe chở L đi ngang qua đại lý thu mua tiêu của chị Đinh Thị T thuộc thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thì phát hiện cửa kho đại lý mở, không có người trông coi, phía trong có nhiều bao tiêu. L và P thống nhất P điều khiển xe mô tô quay lại dừng trước cửa đại lý để cảnh giới và đợi sẵn trên xe để chạy thoát; còn Điểu L xuống xe đi vào nhà kho. L quan sát thấy không có người trông coi nên dùng tay vác trộm 01 bao tiêu khô loại bao xác rắn màu xanh, trọng lượng 44kg rồi chạy ra phía Hàn Xác Phát đang đợi. P điều khiển xe chở L và bao tiêu chạy theo đường tỉnh lộ 686 hướng đi Đ, huyện T đến đại lý thu mua tiêu Phạm D1 thuộc thôn H, xã Đ, huyện T do anh Phạm Công D1 làm chủ, tại đây L bán bao tiêu trộm cắp được cho chị Phạm Nhật L1, là con của anh D1 với giá 4.400.000đ. Sau đó L và P tiêu xài hết số tiền này.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS ngày 09/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ kết luận giá trị của 44kg tiêu khô tại thời điểm ngày 23/3/2024 là 4.215.200đ.
Tại Cáo trạng số 03/CT-VKS-ĐS ngày 17 tháng 12 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song đã truy tố Điều L về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, khoản và điều luật áp dụng như Cáo trạng là đúng, không oan.
Sau khi phân tích, đánh giá tính chất của vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố Điểu Long phạm tội Trộm cắp tài sản, xử phạt bị cáo từ 07 đến 10 tháng tù; áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 26/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông và quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ trả lại 01 bao tiêu khô trọng lượng 44kg cho chị Đinh Thị T; lưu cùng hồ sơ vụ án 03 đoạn video lưu trữ trong 01 USB và được dán niêm phong.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585 và 589 của Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bị hại chị Đinh Thị T, buộc bị cáo Điểu L phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho chị T với số tiền 4.215.200đ.
Tại phiên toà, bị cáo không bào chữa về hành vi phạm tội của mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập lưu tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 23/3/2024, tại thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông Điểu Long đã lén lút trộm cắp của chị Đinh Thị T 44kg tiêu khô có giá trị là 4.215.200đ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...”.
[3] Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo ít nghiêm trọng nhưng đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Mặt khác, bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài và Sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần xử phạt bị cáo hình phạt tù với mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra, bị cáo là người dân tộc thiểu số và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật nhà nước.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về tổng hợp hình phạt: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 26/9/2024 bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/6/2024, hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Đ, thuộc huyện M'Đrắk, tỉnh Đắk Lắk theo Quyết định thi hành hình phạt tù số: 160/2024/QĐ-CA ngày 28/10/2024 của Chánh án Toà án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. Vì vậy cần áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 26/9/2024 và quyết định hình phạt chung đối với bị cáo. Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại chị Đinh Thị T1 đã trả 4.400.00₫ cho anh Phạm Công D1 và được nhận lại tài sản là 01 bao tiêu khô trọng lượng 44kg. Ngày 31/12/2024 chị T có đơn yêu cầu bị cáo Điểu L phải bồi thường số tiền 4.215.200đ. Xét thấy yêu cầu bồi thường của chị Đinh Thị T là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Sau khi nhận lại số tiền số tiền 4.400.000đ từ chị T, chị Phạm Nhật L1 và anh Phạm Công D1 không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về xử lý vật chứng: Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 bao tiêu khô trọng lượng 44kg cho chị Đinh Thị T là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[9] Đối với Hàn Xác P và xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu xanh trắng (không rõ biển kiểm soát) của P điều khiển chở Điểu L thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đang xác minh, truy tìm, khi nào có kết quả sẽ xử lý là phù hợp. Đối với chị Phạm Nhật L1 và anh Phạm Công D1, không biết bao tiêu khô trọng lượng 44kg là tài sản do bị cáo Điểu L trộm cắp mà có nên không áp dụng biện pháp xử lý là phù hợp.
[10] Xét chứng cứ buộc tội, quan điểm đề nghị về mức hình phạt, về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo và việc xử lý vật chứng của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, cần chấp nhận.
[11] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số ở xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông, thuộc xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố: Bị cáo Điểu L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Điểu L 09 (chín) tháng tù.
Áp dụng Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 26/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, buộc bị cáo Điểu L phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/6/2024.
-
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585 và 589 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Điểu L phải bồi thường cho bị hại chị Đinh Thị T số tiền 4.215.200₫ (Bốn triệu hai trăm mười lăm nghìn hai trăm đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận việc cơ quan CSĐT Công an huyện Đ trả lại 01 bao tiêu khô trọng lượng 44kg cho chị Đinh Thị T; Lưu tại hồ sơ vụ án 03 đoạn video lưu trữ trong 01 USB và được dán niêm phong.
-
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Điểu L.
-
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thắm |
Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 07/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 06/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đieu L phạm tội Trộm cắp tài sản.
