|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày: 24-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Hùng
Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Thanh Tuyết
Bà Lương Thị Diệu
Ông Điểu Bách
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Duyến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Thành Nam - Kiểm sát viên
Trong các ngày 20 và 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2024 đối với:
- Các bị cáo:
1. Nguyễn Tuấn V, sinh ngày 15 tháng 01 năm 1990 tại Bình Phước; tên gọi khác: Cu Hai; nơi thường trú: ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước; nơi ở hiện tại: ấp A, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1966 và bà Lưu Thị Thu H, sinh năm 1966; có vợ là Nguyễn Thị C, sinh năm 1994 và 02 con; lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
- Ngày 23/10/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 94/2012/HSST ngày 23/10/2012.
- Ngày 11/9/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 44/2018/HSST ngày 11/9/2018.
Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
2. Nguyễn Nhật K, sinh ngày 27 tháng 01 năm 2003 tại Bình Phước; tên gọi khác: không; nơi cư trú: tổ A, khu phố P, phường P, thị xã B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1979; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 27/4/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 19/2022/HS-ST ngày 27/4/2022 của Toà án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước; bị cáo chấp hành xong bản án ngày 31/12/2022, chưa được xóa án tích; tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2023. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
3. Trương Khánh T1, sinh ngày 20 tháng 6 năm 1993 tại Bình Phước; tên gọi khác: không; nơi cư trú: tổ B, ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn T2, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1968; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án:
- Ngày 21/02/2020 bị Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 22/2020/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 22/12/2021, chưa được xóa án tích;
- Ngày 05/6/2024 bị Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 (hai) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 140/2024/HS-ST ngày 05/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tiền sự:
- Ngày 20/6/2023 bị Công an xã T, huyện H Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo Quyết định số 33/QĐ-XPHC ngày 20/6/2023;
- Ngày 25/7/2023 bị Công an xã T, huyện H Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo Quyết định số 40/QĐ-XPHC ngày 25/7/2023;
- Ngày 27/11/2023 bị Công an huyện H Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 101/QĐ-XPHC ngày 27/11/2023;
- Ngày 24/01/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản ra quyết định áp dung biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 05/QĐ-TA ngày 24/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Hớn Quản;
Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam T4, tỉnh Long An theo Bản án số 140/2024/HS-ST ngày 05/6/2024 của TAND huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tuấn V và Nguyễn Nhật K: Bà Ngô Thị T3, sinh năm 1972 – Luật sư, Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; địa chỉ: tổ F, khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Có mặt
Người bào chữa cho bị cáo V: Ông Trần Hòa A, sinh năm 1975 – Luật sư, Văn phòng L3, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; địa chỉ: Số D, Quốc lộ A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Có mặt
Người bào chữa cho bị cáo Trương Khánh T1: Ông Phạm Trọng Ê, sinh năm 1972 – Luật sư thuộc Công ty L4 và Cộng sự - Đoàn luật sư tỉnh B; Địa chỉ: Số B Bờ Bao Hợp tác xã P, ấp E, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Điểu Tuấn K1, sinh ngày 21/5/2007; địa chỉ: tổ H, ấp C, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước. Có đơn xin vắng mặt
- Bà Trần Ngọc H1, sinh năm 1987; địa chỉ: tổ F, khu phố P, phường P, thị xã B, tỉnh Bình Phước. Có đơn xin vắng mặt
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1964, địa chỉ: tổ B, K. P, P. A, TX. B, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt
- Ông Nguyễn Minh N1, sinh năm 2000; nơi thường trú: tổ B, khu phố P, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước (hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam T5, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước). Có mặt
- Lưu Thị Thu H, sinh năm 1966; địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước. Có mặt
* Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị Thùy N2, sinh năm 1998; địa chỉ: tổ B, K. P, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước. Có mặt
- Ông Vương Hồng P, sinh năm 1999; địa chỉ: tổ A, khu phố P, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt
- Nguyễn Thị Kim H3, sinh năm 1999; địa chỉ: tổ B, khu phố P, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Qua tin báo của quần chúng nhân dân, vào khoảng 10 giờ 15 phút ngày 21/6/2023, Phòng phòng chống ma túy và tội phạm - Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh B tổ chức tuần tra khu vực đường mòn trong vườn tràm biên giới Việt Nam - Campuchia thuộc ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước thì phát hiện Nguyễn Nhật K và Trương Khánh T1 đang đẩy xe mô tô biển kiểm soát 93E - 304.40 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng lại để kiểm tra. K và T1 khai đi
cùng Nguyễn Tuấn V vận chuyển ma tuý từ Campuchia mang về Việt Nam, V là người giữ ma túy đang đi lên hướng đường tuần tra. Lúc này, lực lượng tuần tra phát hiện V đang đi bộ từ vườn tràm lên đường tuần tra, tay phải cầm 01 (một) bình xịt hơi cay, tay trái cầm 01 (một) túi nylon có đồ vật bên trong nghi là ma túy. V cất giấu túi nylon vào chân cột mốc lộ giới, lực lượng tuần tra tiến hành tiếp cận để bắt giữ V, thấy V có biểu hiện chống cự để bỏ chạy nên đồng chí Nguyễn Đăng N3 - Trinh sát viên dùng súng công cụ hỗ trợ bắn trúng ngón tay út của V sau đó khống chế bắt giữ Việt. Khi dẫn V lại vị trí cột mốc lộ giới, V khai bên trong túi nylon chứa ma túy đá V cùng T1, K vận chuyển từ Campuchia mang về Việt Nam giao cho Nguyễn Minh N1. Lực lượng tuần tra tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Tuấn V, thu giữ và niêm phong đồ vật, tài liêu, gồm:
- 01 (một) túi nylon trong suốt hàn kín một đầu, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, kích thước (6,5 x 6,5) (niêm phong, ký hiệu M1);
- 14 (mười bốn) lá cây (niêm phong, ký hiệu M2);
- 01 (một) túi nylon màu trắng có quai xách (niêm phong, ký hiệu M3);
- 18 (mười tám) tờ vé số (niêm phong, ký hiệu M4);
- 01 (một) bình xịt hơi cay màu vàng, xanh, trắng, đen; và 01 (một) điện thoại di động hiệu IphoneX màu trắng bạc, số IMEI: 354872090528229.
- Tại bản Kết luận giám định số 4229/KL-KTHS ngày 23/6/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại TP . kết luận: Mẫu ký hiệu M1 được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 45,8364 gam (bốn mươi lăm phẩy tám ba sáu bốn gam).
Tại bản Kết luận giám định số 4228/KL-KTHS ngày 23/6/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại TP . kết luận: Trên các mẫu vật gửi giám định được niêm phong ký hiệu M1, M3 và M4 (gồm 01 túi ny lon trong suốt; 01 túi ny lon màu trắng có quai xách và 18 tờ vé số) phát hiện có ADN người. Phân tích thấy lẫn nguồn ADN, trong đó xác định được một kiểu gen nam giới trùng với ADN của đối tượng Nguyễn Tuấn V.
Quá trình điều tra Nguyễn Tuấn V, Nguyễn Nhật K và Trương Khánh T1 khai:
Ngày 20/6/2023, Nguyễn Minh N1, sinh năm 2000, HKTT: KP. P, P. A, TX. B, tỉnh Bình Phước nhờ V điều khiển xe ô tô chở N1 và Nguyễn Thị Kim H3 đi Thành phố Hồ Chí Minh đón con của H3. Đồng thời, N1 nhờ V bán giúp cho N1 01 xe mô tô hiệu Exciter (xe do N1 phạm tội mà có), V nhờ Vương Hồng P, sinh năm 1999, nơi thường trú: KP. P, P. A, TX. B, tỉnh Bình Phước mang xe của N1 đưa cho N4 (không xác định được nhân thân, lai lịch) để mang qua Campuchia bán cho 01 người đàn ông tên thường gọi là ông “Cam”.
Khoảng 15 giờ cùng ngày, khi trên đường từ Thành phố Hồ Chí Minh về thị xã B, V điện thoại cho N4 thì biết là xe mô tô của N1 bán được 13.000.000 đồng. V nảy sinh ý định lấy tiền bán xe mua ma tuý nên điện thoại cho N4 để gặp ông C1 nói chuyện thì ông C1 báo giá 26 triệu đồng/100gam ma tuý đá. Lúc này, V rủ N1 lấy tiền bán xe mua ma túy thì N1 đồng ý và nói V điện thoại cho
K đi cùng qua Campuchia lấy ma túy mang về cho N1. Khoảng 21 giờ cùng ngày, V điều khiển xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát 93F1 - 271.33 đến khu vực đồi Đ thuộc thị xã B, tỉnh Bình Phước đón K cùng đi. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến khu vực đường tuần tra biên giới Việt Nam – Campuchia, V điện thoại cho N4 thì được Điểu Tuấn K1, sinh ngày 21/5/2007, nơi ở hiện tại: Ấp T, xã L, L, tỉnh Bình Phước đón và đưa V, K về chỗ Khai ở. Sau đó, V nhờ Khai dẫn qua Campuchia nhưng đi được khoảng 300m thì xe bị hư hỏng nên quay lại nhà K2 ngủ. Đến khoảng 05 giờ ngày 21/6/2023, K điện thoại và chia sẻ vị trí qua zalo cho Trương Khánh T1 đến nơi ở của Khai để đón K. Khoảng 06 giờ cùng ngày, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki biển kiểm soát 93E - 304.40 đến gặp K và V. Lúc này, V rủ T1 cùng đi qua Campuchia thì T1 đồng ý. Khoảng 08 giờ cùng ngày, V điều khiển xe mô tô của T1 chở T1 và K đi qua Campuchia. Khi tới nhà ông C1 thì thấy N4 đang ở trong nhà cùng với ông C1. Lúc này ông C1 nói xe của N1 đã cũ, đời thấp nên chỉ mua giá 10.000.000 đồng và lấy ra một túi nylon có quai xách bên trong có 01 (một) túi nylon trong suốt hàn kín một đầu, bên trong chứa ma tuý đá để xuống nền nhà và nói “Đây là 10.000.000 đồng ma túy”. V cầm bịch ma túy kiểm tra xong thì lấy 18 (mười tám) tờ vé số của N4 bỏ trên nền nhà bọc túi nylon chứa ma tuý lại rồi K điều khiển xe mô tô chở T1 và V cầm gói ma túy đi về Việt Nam. Trên đường về K dừng xe để V, T1 hái lá cây bọc túi nylon đựng ma túy lại. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày khi đi đến khu vực đường mòn trong vườn tràm biên giới Việt Nam – Campuchia thuộc ấp T, xã L, huyện L tỉnh Bình Phước, do đường sình lầy nên V cầm gói nylon chứa ma túy đi bộ lên đường tuần tra trước để chờ còn T1 phụ K đẩy xe đi theo lối mòn trong vườn tràm. Khi lên tới đường tuần tra V giấu bọc ma túy chỗ chân cột mốc lộ giới thì bị kiểm tra, phát hiện bắt quả tang [bút lục số 71 – 74; 196 – 197].
Tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKSBP-P1 ngày 09/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đã truy tố các bị cáo Nguyễn Tuấn V, Nguyễn Nhật K và Trương Khánh T1 về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước giữ nguyên bản Cáo trạng số 23/CT-VKSBP-P1 ngày 09/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đã truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Tuấn V, Nguyễn Nhật K, Trương Khánh T1.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tuấn V, Nguyễn Nhật K và Trương Khánh T1 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 250 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Áp dụng điểm điểm b khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn V mức hình phạt từ 16 năm tù đến 17 năm tù;
Áp dụng điểm điểm b khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật K mức hình phạt từ 15 năm tù đến 16 năm tù;
Áp dụng điểm điểm b khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trương Khánh T1 mức hình phạt từ 15 năm tù đến 16 năm tù;
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 140/2024/HS-ST ngày 05/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt bị cáo Trương Khánh T1 02 (hai) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tổng hợp hình phạt của cả hai tội từ 17 năm tù đến 18 năm tù.
+ Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Đề nghị tịch thu, tiêu hủy vật chứng là vật cấm tàng trữ, lưu hành và vật mang dấu vết của tội phạm do không còn giá trị sử dụng đã thu giữ trong quá trình điều tra vụ án (có bảng kê kèm theo).
- Đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước các vật chứng là công cụ, phương tiện các bị can sử dụng vào mục đích phạm tội đã thu giữ trong quá trình điều tra vụ án (có bảng kê kèm theo).
- Đề nghị trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp những vật, tài sản đã thu giữ trong quá trình điều tra do không liên quan đến vụ án (có bảng kê kèm theo).
- Đối với 01 xe mô tô hiệu Suzuki màu Đen - Đỏ, biển kiểm soát: 93E - 304.40, số máy: CGA1559451, số khung: RLSDL11ANMV159450. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bà Trần Ngọc H1 cho bị cáo Trương Khánh T1 mượn để sử dụng, bà H1 không biết bị can T1 sử dụng vào mục đích phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Ngày 02/11/2023 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B ra Quyết định xử lý vật chứng số 14/QĐ-CSMT trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Trần Ngọc H1 nên không xem xét xử lý.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tuấn V: Thống nhất với đại diện Viện kiểm sát về tội danh như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đã truy tố đối với bị cáo. Bị cáo V trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hổi cái, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nuôi hai con nhỏ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được áp dụng mức án dưới khung hình phạt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Nhật K: Thống nhất với đại diện Viện kiểm sát về tội danh như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đã truy tố đối với bị cáo. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hổi cái, hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ ly hôn từ nhỏ bị cáo ở cùng với bà nội, sau khi phạm tội bị cáo cũng đã ra đầu thú nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được áp dụng mức án dưới khung hình phạt.
- Người bào chữa cho bị cáo Trương Khánh T1 không đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố đối với bị cáo T1 về tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm b khoản 3 điều 250 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chuyển tội danh cho bị cáo T1 từ tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý trở thành tội không tố giác tội phạm được quy định tại Điều 390 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo là sai trái, vi phạm quy định của pháp luật và gây nguy hiểm cho xã hội. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo K3. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Theo lời khai của bị cáo tại phiên toà cũng như nội dung các biên bản hỏi cung, bị cáo đều khẳng định bị cáo không hề biết việc V và K cùng sang Camphuchia mua ma tuý về Việt Nam sử dụng, không biết trước việc ngày 21/6/2024 sẽ vận chuyển ma tuý từ C về Việt Nam mà chỉ được K và V rủ sang Camphuchia chơi. Bên cạnh đó, cha mẹ bị cáo lớn tuổi, không có người chăm sóc. Bản thân bị cáo tuổi đời còn trẻ, chưa lập gia đình. Từ những lý do trên kính mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt theo hướng áp dụng mức thấp nhất của hình phạt để bị cáo có cơ hội tái hoà nhập với cồng sau khi chấp hành xong hình phạt, quay lại phụ giúp gia đình và chăm sóc mẹ già.
Lời nói sau cùng của các bị cáo V, K, T1 xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an tỉnh B, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo trong hồ sơ vụ án và lời khai người làm chứng về thời gian, địa điểm thực hiện tội phạm, biên bản bắt người phạm tội
quả tang, vật chứng của vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định số 4228, 4229/KL-KTHS ngày 23/6/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ được tranh tụng công khai tại phiên tòa. Do vậy có đủ căn cứ để xác định:
Ngày 21/6/2023, Nguyễn Tuấn V, Nguyễn Nhật K và Trương Khánh T1 đã thực hiện hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 45,8364 gam (bốn mươi lăm phẩy tám ba sáu bốn gam) từ Campuchia về Việt Nam để sử dụng. Khi đi đến khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia thuộc ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước thì bị phát hiện, bắt quả tang. Như vậy, các bị cáo Nguyễn Tuấn V, Nguyễn Nhật K và Trương Khánh T1 đã thực hiện hành vi vận chuyển trái phép 45,8364 gam ma tuý loại Methamphetamine từ Campuchia về Việt Nam đã đủ các yếu tố cấu thành tội Vận chuyển trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 23/CT-VKSBP-P1 ngày 09/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
[3.1] Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm nhưng không có sự bàn bạc từ trước; không có sự cấu kết, phân công, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Đây chỉ là vụ án đồng phạm giản đơn cho nên cần xem xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án để quyết định hình phạt cho phù hợp. Bản thân các bị cáo đã từng vi phạm pháp luật, bị cải tạo và mới chấp hành xong hình phạt, lẽ ra các bị cáo phải lấy đó làm bài học để cố gắng rèn luyện, tu dưỡng bản thân và trở thành một công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, chỉ vì lợi ích cá nhân, bị cáo V đã có hành vi vận chuyển trái phép 45,8364 gam ma tuý loại Methamphetamine từ Campuchia về Việt Nam; bị cáo V là người giữ vai trò chính. Đối với bị cáo K và T1 là người giữ vai trò giúp sức; các bị cáo biết bị cáo V vận chuyển ma túy nhưng vẫn tham gia cùng V vận chuyển ma tuý từ Campuchia về Việt Nam cho đến khi bị bắt.
[3.2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với ma túy và các chất gây nghiện khác; hành vi của các bị cáo không những đã tiếp tay cho tội phạm để đầu độc tầng lớp thanh thiếu niên bằng chất ma túy mà còn gây đau khổ cho nhiều gia đình có con em bị nghiện, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự địa phương và khu vực biên giới, là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác. Do vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm để giáo dục các bị cáo và răn đe phòng chống tội phạm.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo V có nhân thân xấu; các bị cáo K, T1 có tiền án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý và đây cũng chính là tình tiết tăng nặng thuộc trường hợp “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, sau khi bị bắt các bị cáo đã thành khẩn khai báo, có hoàn cảnh gia đình khó khăn là tình tiết giảm nhẹ
được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt cho các bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử về hình phạt được chấp nhận.
[7] Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo V, bị cáo K không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[8] Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo T1 đề nghị Hội đồng xét xử chuyển tội danh cho bị cáo T1 từ tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý trở thành tội không tố giác tội phạm được quy định tại Điều 390 của Bộ luật Hình sự là không có căn cứ, không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[9] Vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô hiệu Suzuki Raider màu đen đỏ BS: 93E1-304.40, số máy: CGA1559451, số khung: RLSDL11ANMV159450 CQĐT đã trả lại cho bà Trần Ngọc H1 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- 01 xe máy hiệu Honda loại VISION màu xanh, biển kiểm soát 93F1-271.33, số khung 5800EY555996, số máy JF58E0441739 (nhận kèm Phiếu trả lời xác minh, cà vẹt phô tô của xe), không kiểm tra tình trạng bên trong của xe, xe đã qua sử dụng là xe của bà Lưu Thị Hồng M của bị cáo V, khi bị cáo V thực hiện hành vi phạm tội bà H3 không biết cần trả lại cho bà Lưu Thị Hồng .
- 01 ĐTDĐ hiệu OPPO màu xanh có ốp lưng màu vàng, số Imel 1: 863557051318496 và 01 ĐTDĐ màu đen hiệu NOKIA, số Imel 1: 352428902887139 (niêm phong) của Nguyễn Nhật K là phương tiện bị cáo sử dụng để phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- 01 ĐTDĐ hiệu OPPO màu xanh (niêm phong) của Trương Khánh T1 là phương tiện bị cáo sử dụng để phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước;
- 01 ĐTDĐ hiệu Iphone X màu trắng bạc, số I: 354872090528229 của Nguyễn Tuấn V là phương tiện bị cáo sử dụng để phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- 01 bì thư ký hiệu vụ số 4229/KL-KTHS ngày 24/6/2023 đựng ma túy còn lại sau giám định được Phân viện Khoa học hình sự tại Tp . niêm phong, đóng dấu mộc đỏ, cần tịch thu tiêu huỷ.
- 01 bì thư màu trắng đựng 14 lá cây, 18 tờ vé số, 01 túi nilon màu trắng có quai xách là mẫu vật sau giám định được Phân viện Khoa học hình sự tại Tp . niêm phong bên trên có chữ ký của giám định viên và Nguyễn Tuấn V và đóng dấu mộc đỏ của Phân viện kỹ thuật hình sự Tp ., cần tịch thu tiêu huỷ.
- 01 bình xịt hơi cay màu vàng xanh trắng đen có ghi chữ nước ngoài, cần tịch thu tiêu huỷ.
[10] Đối với Điểu Tuấn K1 và Vương Hồng P: Quá trình điều tra xác định K1 và P không biết V thực hiện hành vi phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma
túy”. Ngoài ra, đối tượng tên “Nhóc” cũng không xác định được nhân thân lai lịch. Hơn nữa, tại phiên toà bị cáo V xác định N4 chỉ là người giao cho bị cáo số tiền bán xe của N1 nên thống nhất theo Cáo trạng số 23/CT-VKSBP-P1 ngày 09/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước là không đề cập xử lý.
[11] Đối với các đối tượng là Nguyễn Minh N1 (T), người tên C1 sống tại C và các bị cáo V, K, T1 Tòa án đã có Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung. Vì theo Cáo trạng cũng như quá trình điều tra các bị cáo và các đối tượng trên có dấu hiệu phạm tội theo quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự 2015. Tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước vẫn giữ nguyên Cáo trạng. Do giới hạn của việc xét xử theo quy định tại điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan có thẩm quyền cấp trên xem xét.
[12] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 các Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tuấn V, Nguyễn Nhật K và Trương Khánh T1 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn V 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/6/2023.
Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, các Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật K 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/6/2023.
Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, các Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trương Khánh T1 15 (mười lăm) năm tù.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội bị cáo phải chấp hành 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2024 (theo Bản án số 140/2024/HS-ST ngày 05/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh).
Hình phạt bổ sung: Không
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
01 xe mô tô hiệu Suzuki Raider màu đen đỏ BS: 93E1-304.40, số máy: CGA1559451, số khung: RLSDL11ANMV159450 CQĐT đã trả lại cho bà Trần Ngọc H1 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
01 xe máy hiệu Honda loại VISION màu xanh, biển kiểm soát 93F1-271.33, số khung 5800EY555996, số máy JF58E0441739 (nhận kèm Phiếu trả lời xác minh, cà vẹt phô tô của xe), không kiểm tra tình trạng bên trong của xe, xe đã qua sử dụng là xe của bà Lưu Thị Hồng M của bị cáo V, khi bị cáo V thực hiện hành vi phạm tội bà H3 không biết, cần trả lại cho bà Lưu Thị Hồng . Bà Lưu Thị Hồng liên H4 với Cơ quan Thi hành án tỉnh Bình Phước để nhận lại tài sản.
01 ĐTDĐ hiệu OPPO màu xanh có ốp lưng màu vàng, số Imel 1: 863557051318496 và 01 ĐTDĐ màu đen hiệu NOKIA, số Imel 1: 352428902887139 (niêm phong) của Nguyễn Nhật K là phương tiện bị cáo sử dụng để phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
01 ĐTDĐ hiệu OPPO màu xanh (niêm phong) của Trương Khánh T1 là phương tiện bị cáo sử dụng để phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;
01 ĐTDĐ hiệu Iphone X màu trắng bạc, số I: 354872090528229 của Nguyễn Tuấn V là phương tiện bị cáo sử dụng để phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư ký hiệu vụ số 4229/KL-KTHS ngày 24/6/2023 đựng ma túy còn lại sau giám định được Phân viện Khoa học hình sự tại Tp . niêm phong, đóng dấu mộc đỏ.
Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư màu trắng đựng 14 lá cây, 18 tờ vé số, 01 túi nilon màu trắng có quai xách là mẫu vật sau giám định được Phân viện Khoa học hình sự tại Tp . niêm phong bên trên có chữ ký của giám định viên và Nguyễn Tuấn V và đóng dấu mộc đỏ của Phân viện kỹ thuật hình sự Thành phố H.
Tịch thu tiêu hủy 01 bình xịt hơi cay màu vàng xanh trắng đen có ghi chữ nước ngoài.
(Các vật chứng trên theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0000383, quyển số 0008 giữa Công an tỉnh B và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Phước ngày 28/8/2024).
Kiến nghị Cơ quan có thẩm quyền cấp trên xem xét hành vi của bị cáo V, đối tượng Nguyễn Minh N1 và người tên C1 đồng thời xem xét vai trò liên quan của các bị cáo K và T1 có dấu hiệu theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 để xử lý theo quy định pháp luật hình sự.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo Nguyễn Tuấn V, Nguyễn Nhật K và Trương Khánh T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Hùng |
Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về vận chuyển trái phép chất ma túy
- Số bản án: 06/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Tuấn V phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý
