TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2025/KDTM-ST
Ngày: 23/01/2025
V/v tranh chấp hợp đồng gia công hàng hóa.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Thư
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Hoa
- Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 106/2024/TLST- KDTM ngày 14 tháng 10 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng gia công hàng hóa”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST- KDTM ngày 11 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 01a/2025/QĐST- KDTM ngày 02/01/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV Q; địa chỉ: Thửa đất số 2116, tờ bản đồ số 1010, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương;
Người đại diện ủy quyền: Bà Phạm Thị Thanh T, sinh năm 1987; địa chỉ: 2 đường Đ, khu D, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (văn bản ủy quyền ngày 27/9/2024). Có mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH S; địa chỉ: Số C, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1991; địa chỉ: Số H, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Long An (văn bản ủy quyền ngày 19/11/2024). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn Công ty TNHH MTV Q do bà Phạm Thị Thanh T đại diện trình bày:
Công ty TNHH MTV Q (sau đây viết tắt là Công ty Q) và Công ty TNHH S (sau đây viết tắt là Công ty S) có mối quan hệ làm ăn với nhau từ tháng 4 năm 2022.
Tháng 5/2023, Công ty S đặt hàng Công ty Q gia công hàng hóa gồm: 02 tủ FVR8004, 02 tủ CVFZR2208, 02 tủ CVFR2224, 02 tủ CVFVR8047, 02 tủ CVFVR8112, 02 bàn COCKTAIL, 02 bàn END Table, 02 tủ cabinet, 02 tủ Console 4 cửa, 02 tủ cabinet 4 cửa (0051), 02 tủ Kingsley 4 cửa, 01 giường Venetian, 01 tủ 3 hộc, 01 tủ 05 hộc. Giá gia công bên Công ty S phải thanh toán cho Công ty Q là 40.638.378 đồng, thuế GTGT là 4.063.838 đồng. Công ty Q đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng số 00000003 ngày 31/5/2023 với tổng số tiền là 44.702.216 đ (bốn mươi bốn triệu, bảy trăm lẻ hai nghìn, hai trăm mười sáu đồng). Sau khi nhận hàng, Công ty S đã thanh toán cho Công ty Q số tiền 9.186.406 đồng. Số tiền Công ty S còn nợ Công ty Q trong đợt gia công hàng hóa này là 35.515.810₫ (Ba mươi lăm triệu, năm trăm mười lăm nghìn, tám trăm mười đồng).
Tháng 8/2023, Công ty S đặt hàng Công ty Q gia công hàng hóa gồm: 05 tủ Estland 3 hộc 3 cửa, 06 tủ NEW YORK SIDEBOARD lớn, 05 tủ THANDA VITRINE, 10 tủ ESTLAND TIVI 3 DRAWES. Giá gia công bên Công ty S phải thanh toán cho Công ty Q là 47.098.260 đồng, thuế GTGT là 3.767.861 đồng. Công ty Q đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng số 00000005 ngày 24/8/2023 với tổng số tiền 50.866.121đ (năm mươi triệu, tám trăm sáu mươi sáu nghìn, một trăm hai mươi mốt đồng). Đợt gia công này, Công ty S chưa thanh toán cho Công ty Q đồng nào.
Tháng 9/2023, Công ty S đặt hàng Công ty Q gia công hàng hóa gồm: 50 tủ 3 hộc CVFR8260, 50 tủ 3 cửa CVFVR8315. Giá gia công bên Công ty S phải thanh toán cho Công ty Q là 123.260.250 đồng, thuế VAT 9.860.820 đồng. Công ty Q đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng số 00000007 ngày 13/9/2023 với tổng số tiền là 133.121.070đ (một trăm ba mươi ba triệu, một trăm hai mươi mốt nghìn, không trăm bảy mươi đồng). Đợt gia công này, Công ty S chưa thanh toán cho Công ty Q đồng nào.
Tháng 12/2023 Công ty S đặt Công ty Q gia công hàng hóa gồm: 180 tủ CVFVR2208B. Giá gia công bên Công ty S phải thanh toán cho Công ty Q là 326.357.280 đồng, thuế GTGT là 26.108.582 đồng. Công ty Q đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng số 00000011 ngày 26/12/2023 với tổng số tiền là 352.465.862₫ (ba trăm năm mươi hai triệu, bốn trăm sáu mươi lăm nghìn, tám trăm sáu mươi hai đồng). Sau khi nhận hàng, Công ty S đã thanh toán cho Công ty Q số tiền 100.000.000 đồng. Số tiền Công ty S còn nợ Công ty Q trong đợt gia công hàng hóa này là 252.465.862đ (hai trăm năm mươi hai triệu, bốn trăm sáu mươi lăm nghìn, tám trăm sáu mươi hai đồng).
Ngày 05/01/2024 Công ty Q đã lập Bảng đối chiếu công nợ, theo đó Công ty S còn nợ Công ty Q số tiền 471.968.863đ (bốn trăm bảy mươi mốt triệu, chín trăm sáu mươi tám nghìn, tám trăm sáu mươi ba đồng).
Ngày 04/7/2024 Công ty S có Công văn số 05/24/CV-02 gửi Công ty Q về kế hoạch thanh toán tiền hàng. Theo đó, Công ty S cam kết thực hiện thanh toán cho Công ty Q bắt đầu từ tháng 7/2024 với số tiền lần lượt mỗi tháng là 50.000.000 đồng cho đến khi thanh toán hết công nợ, ngày thanh toán trong khoảng thời gian từ ngày 25 - 30 tây hàng tháng. Tuy nhiên, đến nay Công ty S vẫn chưa thực hiện thanh toán cho Công ty Q bất cứ khoản tiền nào.
Nay Công ty Q làm đơn khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH S phải thanh toán cho Công ty TNHH MTV Q số tiền gia công hàng hóa là 471.968.863₫ (Bốn trăm bảy mươi mốt triệu, chín trăm sáu mươi tám nghìn, tám trăm sáu mươi ba đồng) và số tiền lãi phát sinh trên số tiền chậm thanh toán với mức lãi suất 1%/tháng x 471.968.863 đồng x thời hạn chậm thanh toán tạm tính từ ngày 10/2/2024 đến ngày 10/9/2024 (07 tháng) = 32.970.000₫ (Ba mươi hai triệu, chín trăm bảy mươi nghìn đồng). Tổng cộng công ty S phải thanh toán cho công ty Q số tiền là 504.938.863đ (Năm trăm lẻ bốn triệu, chín trăm ba mươi tám nghìn, tám trăm sáu mươi ba đồng). Tại phiên tòa, sau khi tính toán lại số liệu đại diện nguyên đơn thay đổi chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ là 464.192.863₫.
Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 31/5/2023, hóa đơn giá trị gia tăng ngày 26/12/2023, hóa đơn giá trị gia tăng ngày 13/9/2023, hóa đơn giá trị gia tăng ngày 24/8/2023, bảng đối chiếu công nợ ngày 05/01/2024, bảng đối chiếu công nợ ngày 11/9/2023 đối với đơn hàng CVFVR 8315, bảng đối chiếu công nợ ngày 11/9/2023 đối với đơn hàng CVFVR8260, bảng đối chiếu công nợ ngày 26/12/2023 đối với đơn hàng CVFVR2208B, công văn kế hoạch thanh toán tiền hàng ngày 04/7/2024, bảng giá gia công mẫu, ủy nhiệm chi lập ngày 23/01/2024 và ủy nhiệm chi lập ngày 05/02/2024.
* Bị đơn Công ty TNHH S do ông Nguyễn Thanh L1 đại diện trình bày:
Công ty TNHH S cho rằng theo thông tin của công ty TNHH MTV Q cung cấp các hóa đơn ngày 31/5/2023, ngày 24/8/2023, ngày 13/9/2023 và ngày 26/12/2023 thì tổng số tiền nợ là 581.155.269đ, trong khi đó ngày 26/01/2024, ngày 06/02/2024 công ty S đã trả 200.000.000₫ (mỗi lần 100.000.000₫) và ngày 27/7/2024 công ty S đã trả 50.000.000đ. Như vậy, công ty Q yêu cầu công ty S thanh toán số tiền nợ 471.968.863₫ là chưa trùng khớp giữa hai bên.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; bị đơn vắng mặt không lý do.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được Hội đồng xét xử xem xét và thẩm tra công khai tại phiên tòa cho thấy: căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả là chưa chính xác, đồng thời số tiền lãi nguyên đơn yêu cầu cao hơn so với mức bình quân của ba ngân hàng. Tuy nhiên, tại phiên tòa đại diện nguyên đơn đồng ý số tiền nợ là 464.192.863đ và mức lãi suất nợ quá hạn trung bình theo xác minh của Tòa án. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn công ty TNHH MTV Q khởi kiện yêu cầu công ty TNHH S yêu cầu thanh toán khoản nợ từ hợp đồng gia công hàng hóa, do đó quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hợp đồng gia công hàng hóa”. Bị đơn công ty TNHH S có trụ sở ở khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại các Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty S được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung:
Công ty Q cho rằng theo biên bản xác nhận công nợ lập ngày 05/01/2024 thì công ty S còn nợ số tiền là 471.986.863 đồng từ hợp đồng gia công hàng hóa. Đại diện Công ty S có ý kiến ngày 23/01/2024 công ty S đã trả cho công ty Q số tiền 100.000.000₫ theo ủy nhiệm chi lập ngày 23/01/2024 và ngày 05/02/2024 công ty S đã trả cho công ty Q số tiền 100.000.000đ theo ủy nhiệm chi lập ngày 05/02/2024. Tuy nhiên, đại diện nguyên đơn cho rằng số tiền 200.000.000₫ công ty S trả cho công ty Q vào ngày 23/01/2024 và ngày 05/02/2024 là thanh toán cho hóa đơn số 07 và 06 của năm 2022. Đối với số tiền 50.000.000₫ công ty S chuyển trả ngày 27/7/2024 thì công ty Q cho rằng số tiền này công ty S trả cho hóa đơn số 06 ngày 28/7/2022, do sơ xuất trong đánh máy nên công ty Q đã ghi nhầm là trả cho hóa đơn 000000011 ngày 23/12/2023, công ty S không có ý kiến gì về số tiền này.
Xét thấy, biên bản xác nhận công nợ công ty Q lập ngày 05/01/2024 nhưng không có xác nhận của công ty S và theo chứng cứ công ty Q cung cấp thể hiện ủy nhiệm chi lập ngày 23/01/2024 nội dung thanh toán hóa đơn 6 và một phần hóa đơn 7 - ngày thực hiện 23/01/2024; ủy nhiệm chi lập ngày 05/02/2024 nội dung thanh toán một phần hóa đơn 7 – ngày thực hiện 07/02/2024. Như vậy, số tiền 200.000.000₫ công ty S đã thanh toán cho công ty Q vào ngày 23/01/2024 và ngày 07/02/2024 đối với hóa đơn 6 và 7 chứ không phải thanh toán cho các hóa đơn 00000003, 00000005, 00000007 và 0000011 như theo đơn khởi kiện của nguyên đơn. Theo bảng đối chiếu công nợ ngày 26/12/2023 có xác nhận của công ty S thì số nợ theo đơn hàng CVFVR 2208B là 244.689.862đ, bảng đối chiếu công nợ ngày 11/9/2023 có xác nhận của công ty S thì số nợ theo đơn hàng CVFVR 8260 là 33.990.030đ, bảng đối chiếu công nợ ngày 11/9/2023 có xác nhận của công ty S thì số nợ theo đơn hàng CVFVR 8315 là 99.131.040đ. Số tiền 50.000.000₫ công ty S thanh toán ngày 27/7/2024 công ty Q cho rằng số tiền này công ty S thanh toán cho hóa đơn số 06 ngày 28/7/2022 và công ty S không có ý kiến và cũng không xuất trình được chứng cứ gì khác, đồng thời qua đối chiếu số nợ của hóa đơn số 06/2022 và số tiền công ty S đã thanh toán thì thấy phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của công ty Q.
Như vậy, tổng số tiền công ty S còn nợ công ty Q theo các hóa đơn số 00000003, 00000005, 00000007 và 000000011 là 464.192.863đ (cụ thể: 244.689.862đ + 33.990.030₫ + 99.131.040₫ + 35.515.810₫ + 50.866.121₫). Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn đồng ý yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ 464.192.863đ, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3] Về tiền lãi chậm thanh toán:
Công ty Q yêu cầu công ty S phải thanh toán tiền lãi phát sinh trên số tiền chậm thanh toán với mức lãi suất 1%/tháng kể từ ngày 10/02/2024 đến ngày xét xử. Theo kết quả xác minh mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của ba ngân hàng thương mại (Ngân hàng thương mại cổ phần N, Ngân hàng thương mại cổ phần C, Ngân hàng N1) tại thời điểm xét xử sơ thẩm thì mức lãi suất trung bình là 10,4%/năm (0,866%/tháng), do đó Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào mức lãi suất này. Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn đồng ý mức lãi suất trung bình do Tòa án xác minh thu thập.
Như vậy, số tiền nợ là 464.192.863đ, thời gian chậm thanh toán tính từ ngày 10/02/2024 đến ngày 23/01/2025 là 11 tháng 13 ngày, số lãi chậm trả phát sinh là 464.192.863₫ x 0.866%/tháng x 11 tháng 13 ngày = 45.960.973đ (bốn mươi lăm triệu, chín trăm sáu mươi nghìn, chín trăm bảy mươi ba đồng).
[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn tiền nợ là 464.192.863đ (bốn trăm sáu mươi bốn triệu, một trăm chín mươi hai nghìn, tám trăm sáu mươi ba đồng) và tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ chậm thanh toán là 45.960.973₫ (bốn mươi lăm triệu, chín trăm sáu mươi nghìn, chín trăm bảy mươi ba đồng). Tổng số tiền công ty S phải trả cho công ty Q là 510.153.836₫ (năm trăm mười triệu, một trăm năm mươi ba nghìn, tám trăm ba sáu đồng).
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tại phiên tòa là phù hợp nên chấp nhận.
[6] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn công ty S phải chịu án phí đối với số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn công ty Q.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Các Điều 30, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Các Điều 178, 179, 181, 182, 183 Luật Thương mại;
- Điểm a Khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ- HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV Q với bị đơn Công ty TNHH S về việc “Tranh chấp hợp đồng gia công hàng hóa”
Buộc Công ty TNHH S phải thanh toán cho Công ty TNHH MTV Q số tiền 510.153.836đ (năm trăm mười triệu, một trăm năm mươi ba nghìn, tám trăm ba mươi sáu đồng), trong đó tiền nợ là 464.192.863đ và tiền lãi chậm trả là 45.960.973₫.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí sơ thẩm: Bị đơn Công ty TNHH S phải chịu 24.406.153đ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Hoàn trả cho Công ty TNHH MTV Q số tiền 12.098.777đ (mười hai triệu, chín tám nghìn, bảy trăm bảy bảy đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001673 ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Anh Thư |
Bản án số 06/2025/KDTM-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng gia công hàng hóa
- Số bản án: 06/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng gia công hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị đơn vắng mặt
