Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST

Ngày 23/01/2025

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi

con khi ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Hoài

Ông Lê Phi Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Nhật Lệ - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa:

Bà Vũ Ngọc Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 70/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: anh Lê Việt C, sinh năm 1983; nơi ĐKTT: khu H, phường M, thị xã (nay là thành phố) Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: 1101 B, Hungária körút 5-7., 3 building, 2nd stairwell, 7th floor, 1st door. Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

- Bị đơn: chị Lê Hồng T, sinh năm 1984; nơi ĐKTT: khu H, phường M, thị xã (nay là thành phố) Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: số D đường S, làng L, thị trấn Y, huyện B, Đài Loan. Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Lê Sơn Đ, sinh năm 1958 và bà Ngô Thị K, sinh năm 1959; cùng nơi thường trú: khu H, phường M, thị xã (nay là thành phố) Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (đề nghị được vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai đề ngày 18/12/2024, của nguyên đơn anh Lê Việt C (được Đại sư quán N1 tại Hungary chứng nhận), thể hiện nội dung: anh C và chị Lê Hồng T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại thị trấn M, huyện Đ (nay là phường M, thành phố Đ), tỉnh Quảng Ninh ngày 28/8/2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại tổ C, khu H, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh. Cuộc sống chung hạnh phúc đến năm 2016, thì

2

phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không có cùng quan điểm nên thường xuyên cãi vã, xích mích với nhau, từ năm 2018 đã sống ly thân. Năm 2020, chị T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, hiện nay anh C đang làm việc và sinh sống tại Hungary. Anh C nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh C yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho anh C được ly hôn với chị T.

- Về con chung: anh C và chị T có 01 con chung là Lê Hạo N, sinh ngày 24/6/2008. Khi được Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị T, anh C đề nghị Tòa án giao con chung cháu Lê Hạo N cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi), anh C không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng cho con. Do anh C hiện nay đang ở Hungary nên đề nghị Tòa án tạm giao cháu Lê Hạo N cho bố mẹ đẻ của anh C là ông Lê Sơn Đ và bà Ngô Thị K; cùng nơi thường trú: khu H, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi anh C về Việt Nam để thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có, anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do anh C chưa thể về Việt Nam, anh C ủy quyền cho ông Lê Sơn Đ, sinh năm 1958; địa chỉ: khu H, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh nhận các văn bản, giấy tờ tố tụng của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giao, tống đạt cho anh C và thông báo cho anh C biết.

* Tại Bản tự khai đề ngày 09/12/2024, của bị đơn chị Lê Hồng T, thể hiện nội dung: chị T và anh Lê Việt C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại thị trấn M, huyện Đ (nay là phường M, thành phố Đ), tỉnh Quảng Ninh ngày 28/8/2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại tổ C, khu H, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh. Đến năm 2016, thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không có cùng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã, xích mích với nhau; từ năm 2018, vợ chồng đã sống ly thân. Năm 2020, chị T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, không còn liên lạc gì với anh C nữa. Chị T đồng ý ly hôn anh C, đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho chị T được ly hôn anh C.

- Về con chung: chị T và anh C có 01 con chung là Lê Hạo N, sinh ngày 24/6/2008. Khi Tòa án giải quyết cho chị T và anh C ly hôn, chị T đề nghị Tòa án giao con chung cháu Lê Hạo N cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Do anh C đang ở Hungary, chị T cũng đang lao động tại Đài Loan nên đề nghị Tòa án tạm giao con chung của chị T và anh C cho ông bà nội (là bố mẹ đẻ của anh C) là ông Lê Sơn Đ và bà Ngô Thị K; cùng địa chỉ: khu H, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi anh C về Việt Nam để thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do chị T phải sang Đài Loan làm việc theo hợp đồng, chị T ủy quyền cho chị Lê Thị Y, sinh năm 1976; địa chỉ: thôn A, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh

3

nhận các văn bản, giấy tờ tố tụng của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giao, tống đạt cho chị T và thông báo cho chị T biết.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 06/12/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Sơn Đ và bà Ngô Thị K trình bày: anh C và chị T kết hôn năm 2007, sau khi kết hôn có sống cùng ông bà được khoảng 06 năm, sau đó vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, chị T đi xuất khẩu lao động, ông bà không biết chính xác chị T đi xuất khẩu tại nước nào. Chị T và anh C có một con chung là cháu Lê Hạo N, sinh ngày 24/6/2008; từ khi chị T đi xuất khẩu lao động thì cháu N ở với ông bà và anh C, còn khi anh C đi làm việc tại Hungary thì cháu N do ông bà nuôi dưỡng. Anh C đã bàn bạc với ông bà, khi anh C và chị T ly hôn, anh C là người nuôi con, không yêu cầu chị T cấp dưỡng. Trong thời gian anh C chưa về nước, ông bà xin nhận trách nhiệm nuôi dưỡng cháu N cho đến khi anh C về nước thực hiện quyền nuôi dưỡng con. Anh C vẫn thường xuyên gửi tiền về cho ông bà nuôi cháu. Ông bà đề nghị Toà án cho ông bà được vắng mặt tại các phiên họp và phiên toà xét xử vụ án.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 09/12/2024, cháu Lê Hạo N, sinh ngày 24/6/2008 là con chung của anh Lê Việt C và chị Lê Hồng T trình bày: hiện nay cháu N đang ở với ông bà nội là ông Lê Sơn Đ và bà Ngô Thị K; địa chỉ: khu H, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh. Khi bố mẹ ly hôn, cháu mong muốn được ở với bố, trong thời gian bố cháu chưa về Việt Nam, cháu vẫn ở với ông bà nội, bố cháu vẫn gửi tiền về cho ông bà nuôi cháu ăn học.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

- Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán; Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án, đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lê Việt C như nêu trên. Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhận thấy có căn cứ chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của anh Lê Việt C đối với chị Lê Hồng T.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về tố tụng: đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lê Việt C, Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh thụ lý, giải quyết tại Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 33/2024/HNGĐ-ST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Ngày 12/7/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 3266/QĐ-VKSQN-HNGĐ kháng nghị

4

đối với Bản án sơ thẩm do bản án có vi phạm về đánh giá, thu thập chứng cứ; thẩm quyền giải quyết vụ án; tống đạt thủ tục tố tụng; về nhận định và nội dung tuyên án. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm theo hướng hủy bản án sơ thẩm. Tại Bản án Hôn nhân và Gia đình phúc thẩm số: 12/2024/HNGĐ-PT ngày 05/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, quyết định: chấp nhận kháng nghị của Viện Trưởng, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Hủy Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 33/2024/HNGĐ-ST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, để Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh thụ lý giải quyết theo thủ tục chung theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Các đương sự đều đề nghị được xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự và công bố các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: anh Lê Việt C và chị Lê Hồng T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại thị trấn M, huyện Đ (nay là phường M, thành phố Đ), tỉnh Quảng Ninh ngày 28/8/2007 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại tổ C, khu H, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh. Đến năm 2016, thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không có cùng quan điểm sống, đã sống ly thân từ năm 2018. Từ năm 2020, chị T đi lao động tại Đài Loan, vợ chồng không còn liên lạc với nhau và anh C hiện nay đang sinh sống, làm việc tại Hungary. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy anh C và chị T không còn tồn tại đời sống chung, không thực hiện nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, quan tâm giúp đỡ nhau cả về vật chất và tinh thần, không cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh C đối với chị T.

[2.2] Về con chung: anh Lê Việt C và chị Lê Hồng T có một con chung là Lê Hạo N, sinh ngày 24/6/2008, hiện nay cháu N đang ở cùng bố mẹ đẻ của anh C tại khu H, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh. Anh C và chị T cùng có quan điểm: sau khi ly hôn, anh C là người nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên (đủ 18 tuổi), chị T không phải cấp dưỡng cho con. Do anh C đang sinh sống, làm việc tại Hungary chưa về Việt Nam thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi con được, đề nghị Tòa án tạm giao con cho bố mẹ anh C là ông Lê Sơn Đ và bà Ngô Thị K nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi anh C về Việt Nam để thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi con theo quy định của pháp luật; ông Đ và bà K cũng có quan điểm: từ khi chị T và anh C đi nước ngoài làm việc, ông bà là người nuôi dưỡng, chăm sóc con chung của anh C và chị T. Ông bà đồng ý nuôi dưỡng, chăm sóc cháu N trong thời gian anh C làm việc ở nước ngoài. Căn cứ quy định tại Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cùng nguyện vọng của cháu Lê Hạo N là muốn ở với bố. Hội đồng xét xử đã chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh C đối với chị T nên chấp nhận yêu cầu, quan điểm của anh C và chị T về

5

việc nuôi con chung như nêu trên. Chị T có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: không có, anh Lê Việt C và chị Lê Hồng T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về án phí: căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326 /2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh Lê Việt C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh về nội dung giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Việt C.

[1] Về quan hệ hôn nhân: anh Lê Việt C được ly hôn với chị Lê Hồng T.

[2] Về con chung: giao cho anh Lê Việt C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê Hạo N, sinh ngày 24/6/2008 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị Lê Hồng T không phải cấp dưỡng cho con.

Sau khi ly hôn, chị Lê Hồng T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu chị Lê Hồng T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh Lê Việt C có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy anh Lê Việt C không đủ điều kiện bảo đảm quyền lợi ích của con thì chị Lê Hồng T có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Tạm giao cháu Lê Hạo N cho ông Lê Sơn Đ và bà Ngô Thị K trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi anh Lê Việt C về Việt Nam để thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi con.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: không có, anh Lê Việt C và chị Lê Hồng T không yêu cầu Toà án giải quyết.

[4] Về án phí: anh Lê Việt C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)

6

tạm ứng án phí anh C đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003496 ngày 14/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho: anh Lê Việt C và chị Lê Hồng T biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật; ông Lê Sơn Đ và bà Ngô Thị K biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND phường Mạo Khê,
  • thành phố Đông Triều;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger