TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày 23-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Đình Phúc và ông Triệu Duy Tỏi
Thư ký Tòa án: Ông Vũ Cao Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuê - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/HSST-QĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Thế P, sinh năm 1995 tại Hải Dương. Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Xuân H và bà Ngô Thị N; có vợ là Bùi Thị D, bị cáo chưa có con; gia đình có ba chị em, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang thực hiện biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người tham gia tố tụng khác:
- - Người bị hại: Chị Ngô Thị H1, sinh ngày 14/3/2000 (đã chết).
- - Người đại diện hợp pháp cho người bị hại: Bà Nghiêm Thị T, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt - vắng mặt).
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Bùi Xuân H, sinh năm 1968; nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương (có mặt).
- + Ông Ngô Văn H2, sinh năm 1968; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
- - Người làm chứng: Chị Vũ Thị P1; chị Vũ Thị B; bà Vũ Thị Ư và anh Lê Văn N1 (toàn bộ người làm chứng vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thời điểm năm 2016, Bùi Thế P là người không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định. Do biết tối ngày 20/8/2016 tại UBND xã T có tổ chức cắm trại hè nên khoảng 21 giờ cùng ngày, khi bố P là ông Bùi Xuân H đang ngủ trong buồng, Bùi Thế P đã tự ý lấy chìa khóa xe mô tô để tại tủ bếp của gia đình. Sau đó, P nói với mẹ là bà Ngô Thị N nội dung lấy xe máy lên xã T xem cắm trại rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave S màu xám, bạc, đeo biển số 34F1-062.72 là tài sản của bố mẹ đẻ Phong lưu thông trên đường ĐT 393 theo hướng xã H đi xã T. Khi đến Km17+500 và còn cách UBND xã Tân Trào khoảng 100m - P phát hiện phía trước ngược chiều có hai xe mô tô đang di chuyển gồm xe mô tô biển số 34B2-319.20 do chị Ngô Thị H1 điều khiển đi trước và đi sau chị H1 là xe mô tô do chị Vũ Thị P1 điều khiển chở chị Vũ Thị B ngồi phía sau. Khi đó, do gần đến nhà chị B nên chị P1 đã điều khiển xe mô tô vượt xe do chị H1 điều khiển một đoạn rồi bật tín hiệu đèn xinhan trái, giảm tốc độ, từ từ chuyển hướng xe từ phải sang trái ra giữa phần đường để sang đường. Cùng lúc này, P điều khiển xe mô tô đi ngược chiều và do bị lóa bởi ánh đèn xe của chị P1 nhưng P không giảm tốc độ, vẫn tiếp tục điều khiển xe đi thẳng về phía trước, khi P vừa điều khiển xe đi giao qua phần đầu xe của chị P1 cũng là lúc phần đầu xe mô tô do P điều khiển đi lấn sang phần đường bên trái theo chiều đi của P rồi đâm vào xe mô tô do chị H1 điều khiển khiến P, chị H1 cùng hai phương tiện ngã, đổ ra đường.
Sau tai nạn, chị Ngô Thị H1 được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện H3 - Hà Nội từ ngày 20/8/2016 đến ngày 26/8/2016 thì tử vong. Bùi Thế P bị chấn thương vùng mặt, gãy xương gò má bên trái, rách da vùng trán trái được điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh H đến ngày 07/9/2016 ổn định ra viện.
Tại trích sao bệnh án số 3184/16/HKTH ngày 13/9/2016 của Bệnh viện H3 đối với chị Ngô Thị H1 thể hiện các dấu hiệu tổn thương chính: Lâm sàng: Sau chấn thương hôn mê sâu, huyết áp tụt, thở qua bóp bóng nội khí quản. Mắt trái nhãn cầu xẹp. Cổ đã Collier. Vết thương cung mày thái dương trái lộ xương thái dương. Vết thương gò má trái. Hàm mặt biến dạng, chảy máu nhiều qua mũi/Cận lâm sàng: Máu tụ ngoài màng cứng vùng trán trái, dưới màng cứng bán cầu trái, các ổ đụng dập tụ máu trong nhu mô não thùy trán trái, phù não bán cầu trái. Đường giữa lệch phải, hệ thống não thất mất cân đối. Vỡ lún phức tạp xương thái dương trái, trần ổ mắt, cung tiếp, xoang hàm bên trái nhiều mảnh rời, đường vỡ lan vào thân xương bướm, xương đá và khối bên xương sàng bên trái. Gãy vách ngăn mũi, tụ dịch trong các xoang hàm mặt. Nhãn cầu trái bờ không dều, dịch kính tăng tỷ trọng dạng dịch máu/Chẩn đoán: Sock đa chấn thương, vết thương sọ não phức tạp, lún xương thái dương trái, máu tụ ngoài màng cứng, vỡ nhãn cầu trái. Chấn thương hàm mặt, gãy xương hàm trên, hàm dưới.
Tại Kết luận giám định pháp y số 436/KLGĐ ngày 20/9/2016 của Phòng K - Công an tỉnh H đối với chị Ngô Thị H1 kết luận: Nguyên nhân chết của chị Ngô Thị H1 là: Đa chấn thương (vết thương đầu mặt, vỡ xương sọ phức tạp, chảy máu não, màng não, dập não. Gãy xương hàm trên, hàm dưới. Vỡ nhãn cầu trái).
Tại Kết luận định giá tài sản số 06a/KL-HĐĐG ngày 10/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND huyện T kết luận: Trị giá thiệt hại đối với xe mô tô biển số 34F1-062.72, nhãn hiệu Honda, số loại Wave S là 5.980.000 đồng và trị giá thiệt hại đối với xe mô tô biển số 34B2-319.20, nhãn hiệu Honda, số loại Wave an pha là 4.885.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 194/KL-KTHS ngày 10/9/2024 của Phòng K, Công an tỉnh H kết luận: 1. Cơ chế hình thành dấu vết va chạm trên hai phương tiện: Dấu vết lốp, săm bánh trước xe mô tô biển số 34F1-062.72 bị vỡ dời khỏi vành xe; vành xe có dấu vết trượt xước kim loại làm đẩy xô lệch, biến dạng khung vành theo hướng từ ngoài vào tâm trục bánh xe, cong gập vào sát trục moay ơ bánh xe (ảnh 15, 16 trong bản ảnh giám định) phù hợp với dấu vết cần sang số và bàn để chân người lái bên trái xe mô tô biển số 34B2-319.20 bị cong gập theo chiều từ trước về sau, từ trái sang phải, bàn để chân bị tuột mất đệm cao su (ảnh 17, 18 trong bản ảnh giám định)/Dấu vết cần sang số và bàn để chân người lái bên trái xe mô tô biển số 34F1-062.72 bị đẩy cong gập theo chiều từ trước về sau, từ trái sang phải; bàn để chân bị tuột mất đệm cao su, trên bề mặt lõi kim loại bàn để chân người lái bên trái còn dính chất bột màu xanh (ảnh 19, 20 trong bản ảnh giám định) phù hợp với dấu vết lốp, săm xe bánh trước xe mô tô biển số 34B2-319.20 bị vỡ rời khỏi vành xe; vành xe tại vị trí chân van có dấu vết trượt xước kim loại làm xô lệch, biến dạng khung vành theo hướng từ ngoài vào tâm trục bánh xe, từ trái sang phải (ảnh 21, 22 trong bản ảnh giám định). 2. Vị trí va chạm trên phần đường: Căn cứ vào các dấu vết được mô tả, ghi nhận trong sơ đồ hiện trường, ảnh hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông và các dấu vết ở hai phương tiện xe mô tô biển số 34F1-062.72 và xe mô tô biển số 34B2-319.20, xác định vị trí va chạm trên phần đường giữa xe mô tô biển số 34F1-062.72 và xe mô tô biển số 34B2-319.20 ở phần đường bên trái theo hướng từ xã H đi xã T là phù hợp.
Tại văn bản số 1771/CV-TA ngày 10/12/2024, Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện đề nghị Phòng K - Công an tỉnh H giải thích rõ hơn nội dung tại mục 2 phần V Kết luận giám định số 194/KL-KTHS ngày 10/9/2024 về vị trí va chạm trên phần đường giữa xe mô tô biển số 34F1-062.72 và xe mô tô biển số 34B2-319.20 liên quan đến tai nạn. Tại văn bản số 529/PC09 ngày 17/12/2024 - Phòng K - Công an tỉnh H xác định: Vết cà xước mặt đường “C1” dài 0,2m có hướng từ xã T đi Hồ N do bàn để chân bên phải người điều khiển xe mô tô biển số 34B2-319.20 tạo nên là phù hợp; Vết cà xước “C2” có hướng từ xã H đi xã T do bàn để chân bên phải người điều khiển xe mô tô biển số 34F1-062.72 tạo nên là phù hợp; đầu vết cà xước mặt đường “C1” cách đầu vết cà xước mặt đường “C2” 0,7m, trong sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường thể hiện vị trí vùng vỡ nhựa tập trung ở phần đường bên trái hướng từ xã H đi xã T, xung quanh khu vực xe mô tô biển số 34B2-319.20. Như vậy, vị trí va chạm trên đường giữa 02 phương tiện nằm ở trong khoảng giữa vết cà xước mặt đường “C1” và vết cà xước mặt đường “C2”/Mặt khác, đầu vết cà xước mặt đường “C2” cách mép đường phải 2,7m (cách tim đường 0,2m), đo khoảng cách từ đầu bàn để chân bên phải xe mô tô biển số 34F1-062.72 cách mặt đất 0,28m, như vậy trước khi xe đổ nghiêng bên phải, vị trí xe mô tô vẫn ở phần đường bên trái hướng từ xã H đi xã T.
Ngày 05/9/2016, gia đình bị cáo và người đại diện hợp pháp cho người bị hại đã thỏa thuận với nhau nội dung bị cáo bồi thường khắc phục hậu quả cho người đại diện hợp pháp của người bị hại toàn bộ các khoản một lần với số tiền 110.000.000 đồng (một trăm mười triệu đồng).
Ngày 18/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã giao trả chiếc xe mô tô biển số 34F1-062.72 kèm theo giấy tờ cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Bùi Xuân H; giao trả chiếc xe mô tô biển số 34B2-319.20 kèm theo giấy tờ cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Ngô Văn H2.
Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKS-TM ngày 27/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương truy tố Bùi Thế P về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009.
Tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo Bùi Thế P thành khẩn khai báo, thừa nhận và xác định biết được lỗi của mình khi tham gia giao thông không có giấy phép lái xe đối với loại xe theo quy định và điều khiển xe đi không đúng phần đường để xảy ra tai nạn làm chị H2 tử vong là vi phạm pháp luật. Bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối cải, công nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện là đúng.
Người đại diện hợp pháp cho người bị hại bà Nghiêm Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà T xác định cho đến nay trách nhiệm dân sự bị cáo đã thực hiện xong, bà không yêu cầu bồi thường khoản nào khác, đồng thời đề nghị giảm nhẹ tới mức thấp nhất cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bùi Xuân H xác định khi tai nạn xảy ra, do bị cáo cũng bị thương phải điều trị, bản thân ông và gia đình đã tự nguyện gặp gỡ bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại trên cơ sở đề nghị của bị cáo. Đối với khoản tiền bồi thường này có một phần tiền riêng của bị cáo, một phần tiền của ông và một phần tiền vay mượn nhưng sau đó bị cáo đã lao động sản xuất và tự thanh toán trả các khoản nợ đã vay cũng như phần tiền của ông đầy đủ.
Tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày quan điểm giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, điều kiện, nguyên nhân phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Thế P phạm tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 38; Khoản 1 Điều 54; Khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Bùi Thế P từ 02 năm 08 tháng đến 02 năm 11 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Bùi Thế P cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Bùi Thế P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Bùi Thế P phải thực hiện các nghĩa vụ của người được hưởng án treo theo quy định tại Điều 87 Luật Thi hành án hình sự. Nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
4. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
5. Về biện pháp tư pháp: Không đặt ra giải quyết.
6. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không tham gia tranh luận, thể hiện lời nói sau cùng bị cáo xác định việc bị đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương để có điều kiện lao động, sản xuất, chăm sóc gia đình vì hoàn cảnh gia đình bị cáo gặp nhiều khó khăn, bị cáo mới kết hôn và vợ bị cáo hiện đang mang thai hơn hai tháng. Kể từ khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật đến nay đã nhiều năm nhưng bị cáo không có vi phạm gì khác, luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Nhà nước cũng như địa phương nơi cư trú, vẫn thường xuyên thăm hỏi gia đình người bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố; điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên toà như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; sơ đồ hiện trường; bản ảnh hiện trường; biên bản và bản ảnh dựng lại hiện trường; biên bản và bản ảnh khám các phương tiện liên quan đến tai nạn; hồ sơ bệnh án; trích sao bệnh án; kết luận giám định pháp y; kết luận giám định về dấu vết trên phương tiện liên quan đến tai nạn cùng lời khai của những người làm chứng. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 20/8/2016, tại Km17+500 đường 393 thuộc địa phận xã T, huyện T - Bùi Thế P là người không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định nhưng vẫn điều khiển phương tiện xe mô tô lưu thông trên đường, trong quá trình điều khiển xe mô tô đã thực hiện hành vi đi không đúng phần đường quy định, đã để bánh trước xe mô tô do P điều khiển va chạm với bánh trước xe mô tô do chị Ngô Thị H1 điều khiển theo hướng ngược chiều, hậu quả làm chị H1 bị chết.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây thiệt hại nghiêm trọng cho tính mạng của chị H1. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi điều khiển xe mô tô khi không có giấy phép lái xe theo quy định là hành vi bị nghiêm cấm và đặc biệt khi tham gia giao thông phải tuyệt đối tuân thủ các quy tắc giao thông đường bộ, không được thực hiện hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện khác tham gia giao thông. Vì không tuân thủ các quy định trên, bị cáo đã vi phạm vào Khoản 1 Điều 9 và Khoản 1 Điều 58 Luật giao thông đường bộ. Với hậu quả chị H1 chết là hậu quả nghiêm trọng, nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Trong vụ án này, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trước và bị đưa ra xét xử sau thời điểm Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 có hiệu lực thi hành. Tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là điều luật quy định mức khởi điểm của khung hình phạt cao hơn mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009. Do vậy, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 là điều khoản có lợi cho bị cáo khi xét xử.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã tích cực tác động gia đình tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả về vật chất cho gia đình người bị hại. Mặt khác, người đại diện hợp pháp cho người bị hại đề nghị giảm nhẹ tới mức thấp nhất cho bị cáo. Do đó, cần áp dụng các điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
[6] Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy, bị cáo là người có nhân thân tốt, bản thân không có tiền án, tiền sự; phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng; có nơi cư trú rõ ràng, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đến nay đã nhiều năm nhưng luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân nơi cư trú không có vi phạm gì khác và đặc biệt có khả năng tự cải tạo. Mặt khác, hoàn cảnh hiện tại gia đình bị cáo gặp nhiều khó khăn và người đại diện hợp pháp cho người bị hại đề nghị giảm nhẹ tới mức thấp nhất cho bị cáo. Do vậy, không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương để lao động, sản xuất dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đảm bảo bị cáo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phù hợp với quy định tại Khoản 1, 2 và 5 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo cũng phù hợp với khoản 5 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo và người đại diện hợp pháp cho người bị hại đã thống nhất thoả thuận bồi thường một lần toàn bộ thiệt hại nhằm khắc phục hậu quả với số tiền 110.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp cho người bị hại tự nguyện không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản nào khác. Đối với chiếc xe mô tô biển số 34F1-062.72 của ông Bùi Xuân H và chiếc xe mô tô biển số 34B2-319.20 của ông Ngô Văn H2 bị hư hỏng nhưng ông H và ông H2 tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Do vậy không đặt ra xem xét, giải quyết về trách nhiệm dân sự.
[9] Về biện pháp tư pháp: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô biển số 34F1-062.72 kèm theo giấy tờ cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Bùi Xuân H; trả lại chiếc xe mô tô biển số 34B2-319.20 kèm theo giấy tờ cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Ngô Văn H2 là phù hợp nên không đặt ra giải quyết.
[10] Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[11] Về các vấn đề khác:
Đối với các đĩa ghi âm buổi hỏi cung bị cáo được xác định là tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên tiếp tục cho quản lý tại hồ sơ.
Trong vụ án này, bị cáo lấy xe mô tô là tài sản chung của bố, mẹ bị cáo; người bị hại chị H2 tự ý lấy xe mô tô của chú là ông Ngô Văn H2. Ông H không giao xe cho bị cáo và ông H2 không giao xe cho bị hại chị H2 nên không có căn cứ để xem xét trách nhiệm của ông H và ông H2 theo quy định tại Điều 205 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009. Đối với bà Ngô Thị N là mẹ bị cáo đã cho tiền để bị cáo đi học, cấp giấy phép lái xe mô tô, bà N không biết rõ việc bị cáo có giấy phép lái xe hay chưa nên không có căn cứ để xem xét trách nhiệm của bà N theo quy định tại Điều 264 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a Khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 38; Khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thế P phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Thế P 03 (ba) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Bùi Thế P cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Bùi Thế P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Bùi Thế P phải thực hiện các nghĩa vụ của người được hưởng án treo theo quy định tại Điều 87 Luật Thi hành án hình sự. Nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Thế P phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Thế P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp cho người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về phần có liên quan đến quyền lợi của mình, đối với người có mặt trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với người vắng mặt trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Xuân Hiền |
Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG về vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
- Số bản án: 06/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thế P bị xử phạt 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm
