Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG ĐẤT

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23-01-2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Hồng Sơn
  2. Bà Nguyễn Thị Di.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 318/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-DS ngày 06 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ánh Đ, sinh năm 1983;

Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Trương Quốc H, sinh năm 1979;

Địa chỉ: Tổ A ô B, khu phố H, thị trấn L, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/10/2024; bản tự khai và trong quá trình tố tụng tại Tòa, nguyên đơn bà Trần Thị Ánh Đ trình bày:

Về hôn nhân: Bà Đ và ông H có tìm hiểu thấy tình cảm hai người thương yêu nhau nên tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau vào năm 2008. Có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 33, quyển số 02/2008 ngày 18/02/2008 tại UBND thị trấn L, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống tại địa chỉ Tổ A ô2, khu phố H, thị trấn L, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng ý kiến, thường xuyên cãi vã nhau dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng, ảnh hưởng đến cuộc sống của cả hai bên. Nên hai vợ chồng đã ly thân từ tháng 7 năm 2023 cho đến nay, bà Đ cùng con chuyển về Vĩnh Long sinh sống. Trong thời gian ly thân hai vợ chồng không qua lại chăm sóc lẫn nhau.

Nay, nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm yêu thương nhau như trước nên bà Đ yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông H.

Về con chung: Bà Đ xác nhận bà và ông H có 01 con chung tên Trương Quốc H1, sinh ngày 17/01/2011. Ly hôn bà Đ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Trương Quốc H:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông H không đến Tòa án tham gia giải quyết. Tòa án cũng không nhận được văn bản ý kiến hay bản tự khai của ông H.

Tại phiên tòa:

Bà Đ có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà Đ đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn ông H vắng mặt trong quá trình tố tụng là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Trần Thị Ánh Đ yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với ông Trương Quốc H nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; bị đơn ông H có địa chỉ cư trú tại huyện L nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Bà Đ và ông H có tìm hiểu thấy tình cảm hai người thương yêu nhau nên tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau vào năm 2008. Có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 33, quyển số 02/2008 ngày 18/02/2008 tại UBND thị trấn L, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống tại địa chỉ Tổ A ô2, khu phố H, thị trấn L, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng ý kiến, thường xuyên cãi vã nhau dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng, ảnh hưởng đến cuộc sống của cả hai bên. Nên hai vợ chồng đã ly thân từ tháng 7 năm 2023 cho đến nay, bà Đ cùng con chuyển về Vĩnh Long sinh sống. Trong thời gian ly thân hai vợ chồng không qua lại chăm sóc lẫn nhau.

Kết quả xác minh cho thấy: Bà Đ và ông H là vợ chồng, có 01 người con chung là Trương Quốc H1, sinh ngày 17/01/2011. Do vợ chồng mâu thuẫn nên bà Đ và ông H đã ly thân không còn chung sống với nhau từ tháng 7/2023 cho đến nay.

Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa ông H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Điều đó cho thấy bản thân ông H không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, bỏ mặc đời sống hôn nhân.

Từ những tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp; thực tế xác minh tại địa phương cho thấy mâu thuẫn giữa bà Đ và ông H là có thật, theo chiều hướng kéo dài và trầm trọng, ông bà đã thực sự không còn tình cảm với nhau, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đ đối với ông H.

[2.2] Về nuôi con chung: Bà Đ và ông H có 01 con chung tên Trương Quốc H1, sinh ngày 17/01/2011. Ly hôn bà Đ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy: Từ khi hai vợ chồng ly thân năm 2023 cho đến nay, cháu H1 vẫn ở với mẹ, được mẹ nuôi dưỡng. Để tránh xáo trộn trong sinh hoạt, tâm lý, học tập của cháu. Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà Đ giao cháu H1 cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Đ không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về chia tài sản: Bà Đ không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Bà Đ là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho bà Trần Thị Ánh Đ ly hôn ông Trương Quốc H.
  2. Về nuôi con chung: Giao con chung Trương Quốc H1, sinh ngày 17/01/2011 cho bà Trần Thị Ánh Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Bà Đ không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.

    Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ đối với con chung. Người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không được ai cản trở.

    Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha hoặc mẹ hoặc của cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Trần Thị Ánh Đ phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà Đ đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003780, ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Bà Đ đã nộp đủ án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND huyện Long Đất;
  • - THADS huyện Long Đất;
  • - UBND TT Long Hải (GCNKH số 33
  • Quyển số 02/2008 ngày 18/02/2008);
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Phạm Thị Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger