Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06 /2025/HSST

Ngày: 22/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Bích Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hợi

Ông Dương Viết Vĩnh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên toà: Ông Bùi Việt Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 102/2024/TLST-HS ngày 30/12/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXX ngày 07/01/2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Văn S; Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1991;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở : Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hoá: 9/12. Con ông: Lý Văn S1(đã chết); con bà: Trần Thị H, sinh năm 1959; Gia đình bị cáo có 02 chị em, Bị cáo là con thứ hai; chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: năm 2016, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 05 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 1 năm về tội “đánh bạc” tại bản án số 20/2016/HSPT ngày 28/01/2016. Chấp hành xong bản án ngày 28/01/2017.

Năm 2020, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 18 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 45/2020/HS-ST ngày 22/7/2020. Chấp hành xong án phí ngày 14/10/2020, Chấp hành hình phạt tù ngày 14/7/2021.

Biện pháp ngăn chặn: Lý Văn S bị bắt tạm giữ từ ngày 12/11/2024, đến ngày 21/11/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.– Có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị H, sinh năm 1959

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang (có mặt tại phiên tòa)

* Người chứng kiến:

  1. Ông Dương Văn N, sinh năm 1966
  2. Địa chỉ: xóm Đầu Cầu Ca, xã Kha Sơn, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

  3. Anh Đỗ Văn H1, sinh năm 1986
  4. Địa chỉ: xóm Đ, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

( đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 12/11/2024, tổ công tác của Công an xã K đang làm nhiệm vụ tại đường tỉnh lộ 261C thuộc xóm Đ, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện Lý Văn S, sinh năm: 1991, trú tại Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe máy Honda Wave màu cam - đen - bạc, mang BKS: 98D1-018.75 có biểu hiện vi phạm pháp luật. Qua kiểm tra phát hiện tại túi quần đang mặc bên trái của Sáng có 01 (một) gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng theo Sáng khai nhận là ma túy Heroine của S mang theo người để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong số vật chứng ma túy trên. Ngoài ra còn thu giữ của Sáng 02 xi lanh còn trong bao bì ni long chưa sử dụng, 01 xe Honda Wave màu cam - đen - bạc, mang BKS: 98D1-018.75 do Sáng điều khiển. Sau đó bàn giao Sáng cùng vật chứng cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện P điều tra, giải quyết theo thẩm quyền.

Cùng ngày, Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Phòng K tiến hành cân khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Lý Văn S được niêm phong trong phong bì ký hiệu KS1, cân khối lượng không bì được 0,140gam. Lấy toàn bộ chất bột màu trắng làm mẫu giám định.

Tại bản kết luận giám định số 1168/KL-KTHS ngày 20/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận “Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu Al gửi giám định là chất ma túy; Loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng là: 0,140 gam”.

Quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Sáng tại thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang, cơ quan điều tra không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Vật chứng vụ án gồm: 01 phong bì niêm phong bì niêm phong ký hiệu A1. Bên trong 0,118 gam mẫu Al còn lại sau giám định và vỏ bao gõi mẫu; 01 phong bì niêm phong ký hiệu KS2. Bên trong có 02 (hai) xi lanh còn trong bao ni long chưa qua sử dụng; 01 (một) xe máy Honda Wave màu cam đen - bạc, BKS: 98D1-018.75, có số khung: 037027 (05 số cuối), có số máy: 2837083 (07 số cuối), xe có một gương chiếu hậu bên trái, xe cũ đã qua sử dụng. Hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Lý Văn S khai nhận: Do bản thân mắc nghiện ma túy nên khoảng hơn 08 giờ 00 phút ngày 12/11/2024, S điều khiển xe máy Honda Wave, biển kiểm soát: 98D1-018.75 từ nhà ở tại thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang lên khu vực xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên với mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đi đến khu vực xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Sáng vào một hiệu thuốc ở gần đường (Sáng không nhớ rõ tên và địa chỉ cụ thể của hiệu thuốc) mua 02 (hai) xi lanh sau đó cất vào túi áo ngực bên trái đang mặc rồi đi tiếp, mục đích sau khi mua được ma túy sẽ sử dụng xi lanh tiêm chích chất ma túy vào cơ thể. Khi đi đến khu vực xóm Đ, xã K thì rẽ phải vào đường bê tông cách đường tỉnh lộ 261C khoảng 100m thì S gặp một người phụ nữ không biết tên, tuổi và địa chỉ nhà ở đâu. Sáng hỏi mua ma túy và đưa 200.000đ cho người phu nữ này được một gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa ma túy Heroine. Sau khi mua được ma túy, S cất vào túi quần bên trái rồi điều khiển xe đi về nhà. Khi đi về đến khu vực đường tỉnh lộ 261C thuộc địa phận xóm Đ, xã K, huyện P thì gặp lực lượng Công an kiểm tra phát hiện và bắt quả tang như trên. Sáng khai mục đích mua ma túy là để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích gì khác. Bị cáo xác định cáo trạng VKS ND huyện P truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.

Tại bản Cáo trạng số: 03/CT - VKS PY ngày 26/12/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đã truy tố Lý Văn S về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lý Văn S phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Lý Văn S từ 18 đến 24 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bì niêm phong ký hiệu A1. Bên trong 0,118 gam mẫu Al còn lại sau giám định và vỏ bao gõi mẫu; 01 phong bì niêm phong ký hiệu KS2. Bên trong có 02 (hai) xi lanh còn trong bao ni long chưa qua sử dụng.
  • + trả lại 01 (một) xe máy Honda Wave màu cam - đen - bạc, BKS: 98D1-018.75, có số khung: 037027 (05 số cuối), có số máy: 2837083 (07 số cuối), xe có một gương chiếu hậu bên trái, xe cũ đã qua sử dụng cho chủ sở hữu hợp pháp bà Trần Thị H quản lý sử dụng

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụngcủa Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáokhông có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2]. Người chứng kiến vắng mặt mặt tại phiên toà không có lý do. Hội đồng xét xử thấy rằng, trong hồ sơ đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ; Kiểm sát viên, bị cáo cũng đề nghị xét xử vắng mặt. Xét việc người chứng kiến vắng mặt không gây trở ngại cho quá trình xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định của pháp luật.

[3]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Lý Văn S thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay là khách quan, thống nhất với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với vật chứng thu được và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản cân trọng lượng chất ma tuý, bản kết luận giám định chất ma tuý..., Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 8 giờ 30 phút ngày 12/11/2024, tại khu vực xóm Đ, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Lý Văn S đã có hành vi cất giấu trái phép trong người 0,140 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện nên hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Viện kiểm sát nhân huyện P, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Cụ thể nội dung Điều 249 BLHS có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...

c) Heroin,.... Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam"

[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội::

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi Heroinelà chất ma túy nằm trong Danh mục các chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội, song do vì mắc nghiện ma túy, để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm. Lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp. Do đó việc đưa ra xét xử bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo là cần thiết, để răn đe và phòng ngừa chung.

[5].Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:

  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”.
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • - Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân xấu, cụ thể: năm 2016, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 05 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 1 năm về tội “đánh bạc” tại bản án số 20/2016/HSPT ngày 28/01/2016. Năm 2020, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 18 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 45/2020/HS-ST ngày 22/7/2020. Tuy đã được xóa án tích tuy nhiên là tình tiết về nhân thân cần xem xét khi Hội đồng xét xử lượng hình đối với bị cáo.

[5] Hội đồng xét xử nhận định về hình phạt cần áp dụng: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo xuất thân từ thành phần lao động nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện nên đã mắc nghiện ma túy. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về cùng loại tội, tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học để từ bỏ ma túy, làm lại cuộc đời mà lại tiếp tục phạm tội. HĐXX thấy rằng cần phải áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc, áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, ngăn ngừa tội phạm nói chung và các tội phạm về ma túy nói riêng. Xét thấy mức án đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đề nghị khi luận tội là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6].Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, phạm tội không có mục đích vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7]. Vềvật chứng của vụ án gồm:

  • +01 phong bì niêm phong bì niêm phong ký hiệu A1. Bên trong 0,118 gam mẫu Al còn lại sau giám định và vỏ bao gõi mẫu; 01 phong bì niêm phong ký hiệu KS2. Bên trong có 02 (hai) xi lanh còn trong bao ni long chưa qua sử dụnglà vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • + Đối với 01 (một) xe máy Honda Wave màu cam - đen - bạc, BKS: 98D1-018.75, có số khung: 037027 (05 số cuối), có số máy: 2837083 (07 số cuối), xe có một gương chiếu hậu bên trái, xe cũ đã qua sử dụng. Qua điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là bà Trần Thị H, bà H mua lại chiếc xe trên từ năm 2021 nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 12/11/2024, Bà H không biết bị cáo S sử dụng xe máy đi mua ma túy. Qua tra cứu, chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng nên cần trả lại cho bà H quản lý, sử dụng.

[8]Án phí và quyền kháng cáo: bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quyđịnh pháp luật.

[9].Các hành vi khác: Về nguồn gốc số Heroine, theo Sáng khai mua của một phụ nữ lạ mặt ở khu vực xóm Đ, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được người này là ai, ở đâu nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý.

Đối với bà Trần Thị H, mẹ đẻ của bị cáo, quá trình điều tra xác định bà H không biết S dùng xe để đi mua ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện P không xem xét xử lý là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 326 của BLTTHS tuyên bố: Bị cáo Lý Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Lý Văn S 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 12/11/2024.

Áp dụng Điều 329 BLTTHS ra Quyết định tạm giam bị cáo Lý Văn S 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 BLHS; Điều 106 BLTTHS:

  • - Tịch thu tiêu huỷ:01 (Một) Bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu A1, bên ngoài bì thư có ghi “Hoàn trả 0,118 gam mẫu A và vỏ bao gói còn lại sau giám định vụ Lý Văn S, sinh năm 1991"; 01 (Một) Bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu KS2, bên trong có chứa 02 xilanh còn trong bao nilong chưa qua sử dụng".
  • + Trả lại 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn: cam, đen, bạc, biển kiểm soát: 98D1-018.75, số khung: RLHHC1203BY037027, số máy: HC12E2837083, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái, khi giao nhận xe không kiểm tra tình trạng bên trong xe và săm lốp bên ngoài xe cũ đã qua sử dụng (Có 01 chìa khóa xe) cho chủ sở hữu bà Trần Thị H quản lý, sử dụng.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/01/2025 giữa Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình)

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lý Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh TN;
  • - VKS nhân dân huyện Phú Bình;
  • - Tòa án tỉnh TN;
  • - Nhà giữ Công an huyện Phú Bình;
  • - Công an huyện Phú Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TN;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Phú Bình;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Bích Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HSST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 06/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger