Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THỐT NỐT

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HSST

Ngày: 22-01-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tăng Tài Thủ.

Bà Thái Ánh Trinh.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Toà án nhân dân quận Thốt Nốt - Thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - Thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 111/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu T, sinh năm 1999;

  • nơi đăng ký thường trú: Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế B, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị Tú H, sinh năm 1977;Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/8/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an quận T, thành phố Cần Thơ. (Có mặt)

- Người bị hại: Ông Trần Văn T1 – sinh năm 1990. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Tú H – sinh năm 1977. Địa chỉ: Áp K, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau. Có mặt.

- Người làm chứng: Bà Lê Thị G sinh năm 1977. Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hữu T là người làm thuê cho Trần Văn T1 và sinh sống tại khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ từ ngày 27/7/2024 đến ngày 14/8/2024; T được T1 giao công việc là đi giao gà, vịt cho khách hàng và thu tiền hộ của khách hàng cho T1.

Vào khoảng 7 giờ ngày 14/8/2024, T đi giao gà, vịt cho bà Lê Thị G tại Trung tâm thương mại T4 và nhận số tiền 4.000.000 đồng của bà G. Sau khi nhận tiền, T gọi điện thoại báo cho T1 biết và T1 nói T cất giữ khi nào T1 về nhà thì đưa cho T1. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, T đi ngang phòng ngủ của T1 cửa phòng không có khóa nên T nhìn thấy túi xách màu vàng của T1 được đặt trong một cái mền có màu đỏ - vàng- cam, do thường ngày T nhìn thấy T1 để tiền trong túi xách này nên nảy sinh ý định trộm cắp tiền để chi tiêu. Liền lúc này, T đi vào phòng ngủ của T1 lấy túi xách màu vàng mở khóa phát hiện bên trong có nhiều tờ tiền Việt Nam đồng có mệnh giá khác nhau, T lấy hết số tiền có mệnh giá từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng cho vào túi quần, còn những tờ tiền có mệnh giá từ 20.000 đồng trở xuống T không lấy và đặt túi xách lại vị trí ban đầu; T tiếp tục lấy số tiền 4.000.000 đồng mà T1 nhờ giữ. Sau đó, T đi xe mô tô khách về nhà của T tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Trên đường đi, T kiểm tra số tiền lấy trộm trong túi xách được 53.000.000 đồng cộng với số tiền T1 nhờ giữ 4.000.000 đồng, tổng cộng là 57.000.000 đồng; T sử dụng trả tiền xe 400.000 đồng, trả nợ cho người tên K (nhà ở huyện G, tỉnh Kiên Giang) số tiền 7.000.000 đồng, trả nợ cho người tên Thắng H1 (không rõ họ tên, địa chỉ) số tiền 6.000.000 đồng, số tiền còn lại dùng chi tiêu cá nhân.

Đến ngày 15/8/2024, Trần Văn T1 phát hiện bị mất trộm số tiền 53.000.000 đồng trong túi xách nên trình báo Công an phường T và giao nộp 01 (một) cái ví da màu vàng, 01 (một) cái mền có màu đỏ - vàng - cam. Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an phường phối hợp với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận tiến hành mời Nguyễn Hữu T làm việc và T thừa nhận toàn bộ hành vi lấy trộm tiền của Trần Văn T1, đồng thời giao nộp số tiền còn lại 70.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen (Bút lục 51 đến 53).

Quá trình điều tra, Nguyễn Hữu T thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai phù hợp với những chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. (Bút lục 85-111)

Về tang vật: Cơ quan cảnh sát điều tra tạm giữ theo quy định. Trong quá trình truy tố, Viện kiểm sát ra quyết định xử lý trả lại cho Trần Văn T1 01 (một) cái ví da màu vàng, 01 (một) cái mền có màu đỏ - vàng - cam và số tiền 70.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Trần Văn T1 yêu cầu Nguyễn Hữu T bồi thường số tiền lấy trộm là 53.000.000 đồng và tiền T1 nhờ giữ là 4.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Tú H là mẹ của T đã bồi thường cho T1 được số tiền 15.000.000 đồng, trong đó có số tiền 4.000.000 đồng mà T1 nhờ T cất giữ. Sau khi nhận số tiền bồi thường của bà H, thấy gia đình của T khó khăn nên T1 yêu cầu T tiếp tục bồi thường số tiền mà T trộm 30.000.000 đồng và không yêu cầu gì thêm, T đồng ý bồi thường.

2

Tại Cáo trạng số 03/CT-VKSTN ngày 17 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự).

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, thống nhất nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, bị cáo không có ý kiến gì khác.

Bị hại vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày như trong quá trình điều tra, đồng thời xác nhận đã nhận thêm số tiền 30.000.000 đồng do bà H thay bị cáo bồi thường, ngoài ra bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm về dân sự; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố,không bổ sung gì thêm, đồng thời phát biểu quan điểm luận tội, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó đề nghị: Tuyên bị cáo Nguyễn Hữu Trọng phạm T2 “Trộm cắp tài sản”.

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Hình phạt bổ sung: do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Quá trình điều tra bị hại yêu cầu bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền mất trộm 41.070.000 đồng. Số tiền chênh lệch còn lại 11.930.000 đồng do nhận thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên bị hại tự nguyện cho bị cáo số tiền này. Đồng thời, bị hại xác nhận đã nhận đủ số tiền mất trộm 41.070.000 đồng do bị cáo cùng với bà H (mẹ bị cáo) đã bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận.

Ngoài ra, đối với số tiền 4.000.000 đồng tiền giao gà T thu giữ bà H mẹ bị cáo đã bồi thường lại cho T1 xong nên không đề cập giải quyết.

Trả lại bị cáo Nguyễn Hữu T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen do không liên quan đến việc phạm tội.

Quá trình truy tố Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Trần Văn T1 01 (một) cái ví da màu vàng, 01 (một) cái mền có màu đỏ - vàng - cam và số tiền 70.000 đồng là phù hợp nên không đề cập giải quyết.

- Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Bị cáo không tham gia tranh luận, đồng thời bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

3

Bị hại không tham gia tranh luận, đồng thời xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa có người làm chứng vắng mặt. Xét thấy trong điều tra đã thu thập được lời khai của những người vắng mặt, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lại lời khai của người làm chứng vắng mặt. Do đó, việc vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự là phù hợp.

[3] Trong điều tra và qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ như: Các biên bản về hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và thu giữ vật chứng.

Như vậy, có cơ sở để xác định vào ngày 14/8/2024 bị cáo Nguyễn Hữu T lợi dụng lúc bị hại ông Trần Văn T1 không có ở nhà và cửa phòng ngủ của ông T1 không khóa cửa, bị cáo đã có hành vi lén lút đi vào phòng ngủ lấy trộm số tiền 53.000.000 đồng của ông T1 để trong túi xách màu vàng được đặt trong một cái mền có màu đỏ - vàng- cam nhằm mục đích tiêu xài cá nhân. Hành vi sai trái mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Xét thấy, bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có khả năng nhận thức hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì mong muốn có tiền để tiêu xài mà không phải tốn công sức lao động chính đáng bị cáo bất chấp quy định của pháp luật thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, đồng thời còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án và tiền sự.

4

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét đến thái độ khai báo của bị cáo trong điều tra và tại phiên tòa có thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo cũng đã nhận thức được hành vi sai trái của bản thân nên đã vận động gia đình bồi thường thiệt hại khắc phục xong hậu quả cho bị hại và tại phiên tòa bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đâylà các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đủ điều kiện vận dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo tốt.

[8] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.

[9] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

[11] Về vấn đề khác: Đối với số tiền 4.000.000 đồng, T1 nhờ bị cáo Trọng giữ do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Đối với người tên K, qua xác minh có họ tên là Đỗ Văn K, sinh năm 1982, địa chỉ; ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang nhưng không có mặt tại địa phương và người tên T3 híp, do Nguyễn Hữu T khai không biết rõ họ tên, địa chỉ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận không làm việc được nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[12] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.

Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểmb, s khoản 1, khoản 2Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

* Tuyên bố:

1. Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hữu Trọng phạm T2 “Trộm cắp tài sản”.

Hình phạt chính: Xử phạt Nguyễn Hữu T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 22/8/2024.

Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.

5

2. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Công nhận bị cáo Nguyễn Hữu T cùng gia đình đã bồi thường xong cho bị hại ông Trần Văn T1 số tiền 41.070.000₫ (Bốn mươi mốt triệu không trăm bảy mươi ngàn đồng).

Trả lại bị cáo Nguyễn Hữu T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm tại Chi Cục Thi hành án Dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quanbiết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Về quyền, nghĩa vụ và thời hạn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND TP.Cần Thơ;
  • - VKSND quận Thốt Nốt;
  • - Công an quận Thốt Nốt;
  • - Cơ quan THA quận Thốt Nốt;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Thị Mộng Tuyền

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HSST ngày 22/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 06/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 111/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo: Nguyễn Hữu T, sinh năm 1999; nơi đăng ký thường trú: Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger