TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2024/HS-ST Ngày 11-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Hoà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Hảo
Ông Vùi Văn Tiến
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải – Thẩm tra viên TAND tỉnh Lai Châu
- Đại diện VKSND tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Bá Đ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2024/TLST-HS ngày 29/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Đoàn Trọng Đ1 – sinh ngày 04/4/1986 tại T - Lai Châu;
Nơi cư trú: tổ A, phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn T5; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn K (đã chết) và con bà Lê Thị Q, sinh năm 1947; bị cáo có vợ là Nguyễn Thanh N, sinh năm 1991 và có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2019, hiện vợ con bị cáo đang sinh sống ở tổ A, phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu; tiền án, tiền sự: không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/7/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà. - Lê Văn D - sinh ngày 10/02/1986 tại V - Thanh Hóa;
Nơi cư trú: thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa; Nơi tạm trú: bản L, xã N, huyện N, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: kỹ sư xây dựng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang L, sinh năm 1950 và con bà Trịnh Thị L1, sinh năm 1952; bị cáo có vợ là Đỗ Mai L2, sinh năm 1991 và có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2019, hiện vợ con bị cáo đang sinh sống ở tổ I, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái; tiền án, tiền sự: không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/7/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Bị hại:
- Phùng Lao Ú, sinh năm 1993 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp cho bị hại: chị Phàng Thị T, sinh năm 1998 (là vợ anh Phùng Lao Ú). Nơi cư trú: bản M, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu; (vắng mặt) - Thào A T1, sinh năm 1986 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp cho bị hại: chị Giàng Thị M, sinh năm 1990 (là vợ anh Thào A T1). Nơi cư trú: bản Đ, xã L, huyện M, tỉnh Yên Bái; (có mặt) - Vừ Tờ S1, sinh năm 1983 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp cho bị hại: chị Dinh Thị K1, sinh năm 1995 (là vợ anh Vừ Tờ S). Nơi cư trú: thôn L, xã P, huyện V, tỉnh Hà Giang; (vắng mặt)
* Người làm chứng:
- Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1966; Địa chỉ: bản N, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu; (có mặt)
- Hạng A C, sinh năm 1994; Địa chỉ: bản S, xã S, huyện S, tỉnh Lai Châu; (vắng mặt)
- Nguyễn Thanh G, sinh năm 2004; Địa chỉ: thôn A, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; (vắng mặt)
- Nguyễn Ngọc C1, sinh năm 2006. Địa chỉ: thôn A, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; (vắng mặt)
- Hồ Sỹ L3, sinh năm 1985. Địa chỉ: thôn C, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; (vắng mặt)
- Hồ Sỹ K2, sinh năm 1990. Địa chỉ: thôn C, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; (vắng mặt)
- Lê Duy H, sinh năm 1988. Địa chỉ: thôn C, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; (vắng mặt)
- Phạm Ngọc A, sinh năm 1979. Địa chỉ: bản L, xã N, huyện N, tỉnh Lai Châu; (có mặt)
- Phạm Văn T3, sinh năm 1975. Địa chỉ: bản L, xã N, huyện N, tỉnh Lai Châu (có mặt)
Những người được toà án triệu tập:
- Ông Vũ Tá D1, sinh năm 1981; chức vụ và nghề nghiệp: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Công ty cổ phần T6. Địa chỉ: Đ, xã Đ, huyện Q, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)
- Đại diện theo uỷ quyền của ông Vũ Tá D1: Ông Mai Thế T4, sinh năm 1981; Nơi cư trú: khu Đ, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. (có mặt)
Người phiên dịch: Ông Giàng A H1, sinh năm 1999; Địa chỉ: phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của các bị cáo
Thủy điện T6 được xây dựng tại bản Lồng Ngài, xã N, huyện N, tỉnh Lai Châu do Công ty cổ phần T6 làm chủ đầu tư (sau đây viết tắt là Công ty T6). Ngày 07/4/2022, Công ty T6 ký hợp đồng giao nhận thầu, thi công gói thầu đào hầm và gia cố hầm dẫn nước với tổng chiều dài là 2090m với Công ty trách nhiệm hữu hạn T7 (sau đây viết tắt là Công ty T7) có trụ sở tại tổ A, phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu do Đoàn Trọng Đ1 làm giám đốc. Hợp đồng quy định Công ty T7 có trách nhiệm thực hiện các biện pháp và chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn lao động trong quá trình thi công gói thầu. Công ty T7 bổ nhiệm Lê Văn D làm chỉ huy trưởng công trường thi công, chịu trách nhiệm trước chủ doanh nghiệp và trước pháp luật về việc chỉ đạo và điều hành thi công công trình.
Tháng 11/2022 khi thực hiện gói thầu, Công ty T7 thuê 14 công nhân làm việc và được chia làm 3 tổ gồm: tổ khoan, tổ đảm bảo và tổ ra thải. Trong quá trình thi công, Công ty T7 không tiến hành tập huấn về an toàn lao động, không tổ chức huấn luyện cho công nhân làm công việc thi công đào hầm phương án đảm bảo an toàn lao động, không cấp phát mặt nạ phòng độc, bình dưỡng khí dự phòng cá nhân cho công nhân theo quy định.
Khoảng đầu tháng 7/2024, quá trình khoan nổ, xúc thải gặp phải phần hầm có nền địa chất yếu, sạt lở phải gia cố bằng cách hàn vì kèo và bơm bê tông. Để đảm bảo nguồn điện hoạt động cho máy bơm bê tông, D chỉ đạo các công nhân Vừ Tờ Sài, Thào A T1, Phùng Lao Ú dùng máy xúc lật chở máy phát điện diezen vào hầm, để ở ngách cách cửa hầm chính 100m phát điện phục vụ thi công. Khi máy phát điện hoạt động, khí thải được thải ra trực tiếp trong hầm. Khoảng 4 giờ, ngày 09/7/20024, công nhân Thào A T1, Hạng A Chứ vào hầm nổ máy phát điện để bơm nước rồi về lán nằm ngủ. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, anh C và anh T1 đi xe mô tô vào hầm để tắt máy phát điện. Khi đi vào trong hầm, thấy có nhiều khói đen nên anh C và anh T1 liền chạy bộ ra ngoài. Anh C chạy ra cửa hầm trước, bật máy nén khí để đẩy không khí vào trong hầm, sau đó đến làn chỉ huy báo cáo sự việc cho D biết thì ngất xỉu nên được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện P, tỉnh Lai Châu. Ngay sau đó, D báo cáo sự việc trên với Đoàn Trọng Đ1. Đ1 chỉ đạo D báo cáo với chủ đầu tư và kiểm tra lại hệ thống gió, hệ thống điện, khi vào hầm cảm thấy khó thở là ra ngay. Tiếp đó, D báo cáo với anh Phạm Ngọc A là giám sát thi công và anh Phạm Văn T3 là trưởng Ban quản lý dự án của chủ đầu tư. Sau khi D báo cáo, anh Phạm Ngọc A chỉ đạo dừng thi công, không cho ai vào trong hầm làm việc. Nhưng sau đó, khi D trực tiếp đi vào hầm khoảng 200m thấy không khí bình thường nên không thông báo dừng thi công.
Khoảng 19 giờ 30' ngày 10/7/2024, công nhân Vừ Tờ Sài, Thào A T1 và Phùng Lao Ú dùng máy xúc lật đi vào trong hầm dẫn nước đang thi công để kiểm tra hệ thống điện, nước. Khoảng 22 giờ cùng ngày, D xuống lán của tổ điện, nước trước cửa hầm thì không thấy ai, không thấy máy xúc lật, máy thổi không khí và máy nén khí vẫn đang bật. Duẩn một mình đi vào trong hầm thì phát hiện anh V Tờ Sài, Thào A T1, Phùng Lao Ú đã tử vong. Ngay lúc đó, D thấy bị ngạt khí và khó thở nên đã chạy ra ngoài và báo cáo sự việc lên Công ty T7, Ban T6 và Công an xã N, huyện N để ứng cứu.
Sau khi sự việc xảy ra, cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, lấy mẫu giám định và trưng cầu giám định. Kết quả như sau:
Tại Kết luận giám định số 5393/KL-KTHS, ngày 16/7/2024 của V1 Bộ C3 kết luận: trong chai nhựa nắp màu xanh trên thân chai có ghi “Dasani 510ml”, chai nhựa nắp màu xanh không nhãn mác; chai nhựa nắp màu xanh trên thân chai có ghi “TH TRUE WATER 350ml” đều ghi thu mẫu khí tại hầm thủy điện T6 gửi giám định đều tìm thấy thành phần khí cacbon oxit (CO); nồng độ trung bình: 650ppm. Theo tài liệu con người khi hít phải không khí có nồng độ CO>600ppm thì có nguy cơ cao gây tử vong. Ngoài ra còn tìm thấy thành phần khí cacbon đioxit (CO2), nồng độ trung bình 1,6%; không tìm thấy các khí độc khác: Hydro sunfua, sunfua đioxit, hydro xyanua, nitơ oxit, nitơ đioxit.
Tại các Kết luận giám định tử thi số 43, 44, 45/KLGĐTT-TTPYLC, ngày 27/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L đối với tử thi Phùng Lao Ú, Thào A T1, Vừ Tờ S kết luận:
Nguyên nhân chết: suy hô hấp cấp, truỵ tuần hoàn do ngộ độc C2 monoxid/trong mẫu máu của Phùng Lao Ú có Ethanol hàm lượng 130,12mg/100ml; trong mẫu máu của Thào A T1 có Ethanol hàm lượng 64,89mg/100ml; trong mẫu máu của Vừ Tờ S có Ethanol hàm lượng 272,27mg/100ml.
Cơ chế chết: do hít phải Carbon monoxid → ức chế hô hấp ty thể → ngộ độc Carbon monoxid → suy hô hấp cấp, truỵ tuần hoàn → tử vong.
Công văn số 25, ngày 16/7/2024 của Thanh tra sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh L kết luận: vụ việc tai nạn lao động làm chết 03 người tại công trình thi công thủy điện T6, xã N, huyện N, tỉnh Lai Châu là vụ tai nạn lao động (căn cứ khoản 8, Điều 3 Luật an toàn, vệ sinh lao động năm 2015); vụ việc trên vi phạm Điều 16 và khoản 1, 2 Điều 19 Luật an toàn, vệ sinh lao động năm 2015 (Lý do: ngày 09/7/2024 đã có 02 trường hợp công nhân sau khi đi vào hầm thuỷ điện làm việc đã có dấu hiệu khó thở và 01 người phải đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện P, nhưng người sử dụng lao động không có phương án xử lý sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động; không ra lệnh ngừng ngay hoạt động lao động tại nơi làm việc ... dẫn đến 03 công nhân tiếp tục vào hầm làm việc và tử vong).
Về các vấn đề khác của vụ án
Quá trình điều tra xác định, Công ty T6 và các cá nhân không có lỗi trong việc xảy ra tai nạn lao động nên không đặt vấn đề xử lý trong cùng vụ án.
Đối với anh H2 A C là người bị ngất và đưa đi cấp cứu tại bệnh viện, hiện sức khoẻ bình thường và anh C không yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết trong cùng vụ án.
Đại diện gia đình các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự
Trong quá trình điều tra, các bị cáo đã thông qua gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại về tính mạng cho gia đình các bị hại với tổng số tiền 1.010.000.000 đồng, cụ thể: gia đình anh V Tờ Sài là 300 triệu đồng, gia đình anh Thào A T1 là 400 triệu đồng, gia đình anh Phùng Lao Ú là 310 triệu đồng).
Tại phiên toà, đại diện gia đình bị hại chị Giàng Thị M (vợ anh Thào A T1) nhất trí với thoả thuận bồi thường thiệt hại đã thoả thuận và chị đã được nhận 400 triệu; chị M đề nghị Toà án xem xét giảm hình phạt cho các bị cáo. Đại diện các bị hại Vừ Tờ Sài, Phùng Lao Ú có đơn xin xét xử vắng mặt, không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm và xin Toà án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Về vật chứng thu giữ
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp các tài sản thu giữ: 01 máy xúc lật, 01 máy phát điện, 02 quạt thông gió.
Tại bản cáo trạng số 76/CT-VKS-P1 ngày 28/10/2024 của VKSND tỉnh Lai Châu truy tố Đoàn Trọng Đ1, Lê Văn D về tội "Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 295 của Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a khoản 3 Điều 295, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Đoàn Trọng Đ1 từ 03 - 04 năm tù, Lê Văn D từ 03-04 năm tù; hình phạt bổ sung: phạt mỗi bị cáo từ 20 – 30 triệu đồng và buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.
Tại lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Trong thời gian Công ty T7 thi công hầm dẫn nước công trình thủy điện T6 tại bản Lồng Ngài, xã N, huyện N, tỉnh Lai Châu từ tháng 11/2022 đến ngày 10/7/2024, mặc dù công việc có yêu cầu đảm bảo nghiêm ngặt về an toàn lao động, bắt buộc phải được huấn luyện về an toàn lao động và công nhân phải được trang bị bảo hộ lao động nhưng để cắt giảm chi phí, tăng tiến độ thi công nên Đoàn Trọng Đ1 là giám đốc Công ty, Lê Văn D là chỉ huy trưởng công trường thi công đã không tổ chức tập huấn về an toàn lao động; trang bị không đầy đủ thiết bị bảo hộ lao động cho công nhân; sử dụng máy phát điện diezen thải khí trực tiếp trong hầm thi công.
Ngày 09/7/2024, do điều kiện mất an toàn lao động, 01 công nhân phải nhập viện điều trị do ngạt khí, tuy nhiên, Đ1 và D không dừng thi công để kiểm tra, loại bỏ các yếu tố nguy hiểm nên ngày 10/7/2024, các công nhân Vừ Tờ Sài, Thào A T1, Phùng Lao Ú vào hầm làm việc và bị ngạt khí CO, CO2 dẫn đến tử vong ở trong hầm dẫn nước đang thi công.
Các bị cáo Đoàn Trọng Đ1, Lê Văn D là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có chức trách nhiệm vụ trong quản lý, điều hành và tổ chức thi công công trình, có trách nhiệm trong việc đảm bảo an toàn vệ sinh lao động cho công nhân trong quá trình làm việc tại hầm dẫn nước công trình thuỷ điện nhưng các bị cáo thực hiện không đúng, không đầy đủ biện pháp thi công đảm bảo an toàn trong lao động, các trang thiết bị bảo hộ lao động cho công nhân. Tuy nhiên, với mong muốn cắt giảm chi phí, đẩy nhanh tiến độ thi công nên các bị cáo không tuân thủ đầy đủ các biện pháp an toàn lao động, đặc biệt là các biện pháp phòng ngừa, loại trừ, kiểm soát các yếu tố nguy hiểm cho công nhân trong quá trình lao động. Các bị cáo thấy trước hậu quả gây có thể thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng con người về việc thực hiện không đúng, không đầy đủ về an toàn lao động nhưng cho rằng hậu quả sẽ không xảy ra và có thể ngăn ngừa được. Do đó, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý do cẩu thả, hành vi này là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn lao động gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về người, xâm phạm đến quyền của người lao động được làm việc trong điều kiện an toàn lao động. Hành vi này là nguy hiểm cho xã hội với tính chất rất nghiêm trọng, hành vi đó đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” – tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 295 của Bộ luật hình sự.
Do đó, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là hoàn toàn có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Các bị cáo Đoàn Trọng Đ1, Lê Văn D từ nhỏ được gia đình nuôi dưỡng và ăn học, lớn lên làm ăn sinh sống và xây dựng gia đình, trong quá trình đó, các bị cáo luôn chấp hành nghiêm các chủ trương của đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước. Trong quá trình điều tra và xét xử các bị cáo đều đã thể hiện sự ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, các bị cáo đã tự nguyện và thông qua gia đình tự nguyện bồi thường, khắc phục toàn bộ thiệt hại đã xảy ra, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo - theo điểm s, b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bên cạnh đó, đại diện hợp pháp cho người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, các bị cáo có thân nhân là những người có công với đất nước được ghi nhận nên toà cần coi đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân và vai trò của mỗi bị cáo. Xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu, bản thân các bị cáo chưa có tiền án tiền sự, đã tích cực bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp cho người bị hại và được đại diện hợp pháp cho người bị hại xin xem xét giảm nhẹ hình phạt nên toà cần quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về vật chứng của vụ án và trách nhiệm dân sự:
Đối với một số tài sản thu giữ trong quá trình điều tra đã được cơ quan điều tra trao trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp;
Về trách nhiệm dân sự: đại diện hợp pháp cho người bị hại thoả thuận với các bị cáo và đã bồi thường xong, theo đó gia đình anh V Tờ Sài là 300 triệu đồng, gia đình anh Thào A T1 là 400 triệu đồng, gia đình anh Phùng Lao Ú là 310 triệu đồng.
[5] Về án phí hình sự: cần buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[6] Về hình phạt bổ sung: xét thấy hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn, phải bồi thường thiệt hại về tính mạng do hành vi phạm tội gây ra rất lớn nên khó có khả năng thi hành hình phạt tiền, do đó, toà không áp dụng phạt tiền đối với các bị cáo.
Để phòng ngừa riêng đối với các bị cáo và nhằm tránh những hậu quả nguy hại có thể tiếp tục xảy ra cho xã hội, toà cần cấm các bị cáo đảm nhận các chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc trong một thời hạn nhất định kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
[7] Kiến nghị: sở L cần tăng cường thanh tra, kiểm tra an toàn lao động; tăng cường hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; hướng dẫn các biện pháp phòng ngừa về tai nạn lao động tại các công trình thi công thuỷ điện nói riêng và các công trình xây dựng khác nói chung trên địa bàn tỉnh nhằm ngăn ngừa các vi phạm có thể xảy ra.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- 1/- Tuyên bố các bị cáo Đoàn Trọng Đ1, Lê Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 295, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo. Xử phạt:- Bị cáo Đoàn Trọng Đ1 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 18/7/2024.
- Bị cáo Lê Văn D 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 16/7/2024.
- 2/- Về hình phạt bổ sung:
Áp dụng khoản 5 Điều 295 của Bộ luật hình sự:- Cấm bị cáo Đoàn Trọng Đ1 đảm nhận các chức vụ lãnh đạo quản lý doanh nghiệp và hành nghề xây dựng trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù;
- Cấm bị cáo Lê Văn D đảm nhận chức vụ chỉ huy trưởng công trình và hành nghề xây dựng trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
- 3/- Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự và các Điều 584, 585, 586, 587, 591 của Bộ luật dân sự: ghi nhận sự thoả thuận bồi thường thiệt hại về tính mạng của các bị cáo đối với đại diện gia đình các bị hại, cụ thể:
- Đại diện gia đình anh Vừ Tờ S1 đã nhận đủ số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) theo thoả thuận;
- Đại diện gia đình anh Thào A T1 đã nhận đủ số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) theo thoả thuận;
- Đại diện gia đình anh Phùng Lao Ú đã nhận đủ số tiền 310.000.000 đồng (Ba trăm mười triệu đồng) theo thoả thuận.
- 4/- Án phí: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội: mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho các bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Hoà |
Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU về vi phạm quy định về an toàn lao động
- Số bản án: 06/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về an toàn lao động
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: .
