Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HS-ST
Ngày: 26/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

* Tại điểm cầu trung tâm.

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Xuân Thu.
  • - Các hội thẩm nhân dân: Bà La Thị Thành; Ông Đinh Công Vương.
  • - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên toà: Ông Đỗ Khải Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 26/11/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2024/TLST-HS, ngày 17/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXXST-HS ngày 15/11/2024 đối với bị cáo:

* Tại điểm cầu thành phần, nhà tạm giữ Công an huyện T.

Tráng A T

- Sinh ngày 13/11/1978 tại huyện T, tỉnh Lai Châu.

Nơi cư trú: Bản C, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Tráng A C – sinh năm 1958; Con bà: Lý Thị N – sinh năm 1953; Gia đình có 06 anh, em bị cáo là con thứ ba; Vợ: Sùng Thị C1 – sinh năm 1978; Bị cáo có 05 con; Tiền án, tiền sự: Không có.

Về nhân thân: Ngày 22/8/2016, Tráng A bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (theo Bản án số 87/2016/HSST ngày 22/8/2016). Bị can đã chấp hành xong bản án này, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/6/2024, tạm giam từ ngày 30/6/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. ( có mặt)

Người làm chứng: 1. Kiều Văn D.

2. Lù Văn G. (đều vắng mặt)

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 21/6/2024, Tráng A T đang ở nhà mình tại bản Che Bó, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu thì có Kiều Văn D (sinh năm 1998; cư trú tại: khu E thị trấn T, huyện T) và Lù Văn G (sinh năm 1996; cư trú tại: bản C, xã M, huyện T) đến nhà T. Khi đến sân nhà T, G đứng ở bên ngoài, còn D đi vào trong nhà gặp T hỏi mua Heroine nhưng T nói không có. D bảo T đi tìm mua Heroine cho D thì D sẽ trả tiền công 50.000 đồng, T đồng ý. Sau khi thỏa thuận mua bán Heroine với T, D đi ra ngoài sân nhà T góp tiền với G (D góp 100.000 đồng, G góp 250.000 đồng được tổng số tiền 350.000 đồng). D mang số tiền 350.000 đồng quay vào trong nhà đưa cho T, trong đó 300.000 đồng là tiền mua Heroine còn 50.000 đồng là tiền công D trả cho T đi mua Heroine. Tráng A T cầm tiền đi vào trong bản C, xã P, huyện T gặp và mua từ một người phụ nữ không rõ lai lịch 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon màu xanh) với số tiền 300.000 đồng. T mang về nhà đưa cho D, còn số tiền 50.000 đồng Tỉnh cất vào túi áo ngực bên trái đang mặc. Sau đó, T đi ra ngoài vườn hái rau thì Kiều Văn D gọi Lù Văn G đi vào trong nhà Tráng A T, lấy gói Heroine ra cùng nhau sử dụng bằng hình thức hít (T không biết việc D và G sử dụng Heroine trong nhà của mình). Khi Kiều Văn D và Lù Văn G vừa sử dụng Heroine xong thì bị lực lượng Công an huyện T phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính hồi 18 giờ 40 phút cùng ngày, thu giữ 02 mảnh giấy bạc và 01 bật lửa ga màu đỏ.

Giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Tráng A, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ số tiền 50.000 đồng do T bán H cho Kiều Văn D mà có.

Bản kết luận giám định số 834 ngày 25/6/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng gửi đến giám định là tiền thật.

Vật chứng của vụ án gồm:

02 mảnh giấy bạc (trong đó có 01 mảnh dính chất bột màu trắng đã bị than hoá) và 01 bật lửa ga màu đỏ, thu giữ của Kiều Văn D và Lù Văn G; số tiền 50.000 đồng thu giữ của Tráng A T. Các vật chứng hiện đang được bảo quản theo quy định.

Tại bản cáo trạng số: 132/CT –VKS, ngày 16/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố bị cáo Tráng A T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

2

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện T trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tráng A T phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Đề nghị HĐXX Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tráng A T từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm 03 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 02 mảnh giấy bạc (trong đó có 01 mảnh dính chất bột màu trắng đã bị than hoá) và 01 bật lửa ga màu đỏ. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 50.000đồng.

Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đối với quan điểm của vị đại diện Kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đều mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để được sớm trở về hòa nhập với gia đình, xã hội, tự sửa chữa sai lầm để làm người có ích và xin miễn toàn bộ án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 21/6/2024, tại bản Che Bó, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, Tráng A T đã có hành vi nhận của Kiều Văn D số tiền 350.000 đồng. Sau đó, Tráng A đi vào bản Che Bó, xã P, huyện T mua trái phép 01 gói Heroine với số tiền 300.000 đồng mang về bán cho Kiều Văn D, thu lợi bất chính số tiền 50.000 đồng. Kiều Văn D cùng Lù Văn G lấy

3

Heroine ra sử dụng thì bị Công an huyện T lập biên bản vi phạm hành chính hồi 18 giờ 40 phút cùng ngày. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Tráng A T, Cơ quan điều tra thu giữ 50.000 đồng do T bán trái phép Heroine mà có.

Hành vi nêu trên của bị cáo Tráng A T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Như vậy nội dung bản cáo trạng truy tố, căn cứ pháp luật, mức án đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Bị cáo có đủ điều kiện để nhận biết: Heroine là chất ma túy gây nghiện, hủy hoại sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, nên Nhà nước nghiêm cấm và xử phạt nghiêm khắc đối với bất kỳ ai có một trong những hành vi liên quan đến chất ma túy. Vì mục đích lợi nhuận do bán chất ma túy đem lại, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội và là nguyên nhân chính làm gia tăng người nghiện chất ma túy trên địa bàn. Nên cần phải xử lý thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng: Bị cáo Tráng A T tuy không có tiền án, tiền sự, nhưng quá trình nhân thân đã bị Tòa án nhân huyện T xử phạt 02 năm 06 tháng tù về hành vi “ mua bán trái phép chất ma túy”. Sau khi chấp hành xong hình phạt được tái hòa nhập cộng đồng được một thời gian, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, nên bị cáo phải chịu một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã thực hiện. Song quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phần do nhận thức về xã hội còn hạn chế vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Nên cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xét giảm phần nào khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Đây cũng là căn cứ, lý do để cho bị cáo T1 A T được hưởng mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt mà vị Kiểm sát nhân dân đề nghị áp dụng đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy: gia đình khó khăn, các bị cáo không đảm nhiệm chức vụ nghề nghiệp gì, do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4

[6] Về vật chứng còn lại của vụ án gồm: 02 mảnh giấy bạc (trong đó có 01 mảnh dính chất bột màu trắng đã bị than hoá) và 01 bật lửa ga màu đỏ. Xét thấy số vật chứng này là vật không có giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 50.000đồng thu giữ của bị cáo. Xét thấy tiền do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mà có, nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Về nguồn gốc H, bị cáo Tráng A T khai mua của một người phụ nữ không rõ lai lịch nên không có căn cứ để xác minh, điều tra, xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Kiều Văn D và Lù Văn G, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Tráng A T là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa bị cáo xin miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm, nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

- Khoản 2 Điều 106; Điều 135;136;331;333 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q.

1.Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Tráng A T phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

2.Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Tráng A T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 21/6/2024.

3. Về vật chứng:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy 02 mảnh giấy bạc (trong đó có 01 mảnh dính chất bột màu trắng đã bị than hoá) và 01 bật lửa ga màu đỏ.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 50.000đồng (năm mươi ngàn đồng).

(Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên lập ngày 17/10/2024 ).

4. Về án phí:

Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tráng A T.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu./.

5

6

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Than Uyên.
  • - VKSND tỉnh Lai Châu.
  • - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu.
  • - Bị cáo.
  • - CA huyện Than Uyên.
  • - CQTHAHS huyện Than Uyên.
  • - Chi cục THADS huyện Than Uyên.
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu.
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lường Xuân Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 06/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 3 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger