|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2024/HS-ST Ngày 14-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Huấn
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Văn Thuy và bà Trần Thị Tâm
- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Văn Nam, Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện VKSND huyện M, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Đức, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên.
Trong ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện M xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Sùng Thị C, sinh năm 1982, tại huyện M, tỉnh Lai Châu.
Tên gọi khác: Không có tên gọi khác.
Nơi ĐKHKTT: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Không biết chữ.
Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Sùng Pà H, đã chết; Con bà: Lầu Thị M, đã chết.
Bị cáo có chồng Cháng A C, sinh năm 1981 và 05 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 11/7/2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện M xét xử 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành hình phạt đến ngày 05/02/2021 ra trại. Bị cáo đã đương nhiên được xóa án tích. Bị cáo không bị xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 30/7/2024, tạm giam từ ngày 08/8/2024 đến ngày xét xử, có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Sùng Thị C: Ông Lường Văn B, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 29/7/2024, Sùng Thị C mang theo 500.000 đồng đi bộ một mình từ nhà ở bản N, xã C, huyện M, tỉnh Điện Biên lên khu vực biên giới thuộc bản N 1, xã M, huyện M để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khoảng 20 giờ cùng ngày, bị cáo đến nơi thì bị cáo gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông bị cáo không rõ lai lịch được 01 cục Thuốc phiện gói trong mảnh nilon trong suốt với giá 500.000 đồng. Bị cáo cho toàn bộ số Thuốc phiện vào trong hộp kim loại màu trắng bị cáo mang đi từ nhà. Bị cáo ngủ lại tại đó và lấy một ít Thuốc phiện ra sử dụng. Khoảng 08 giờ ngày 30/7/2024, bị cáo ngủ dậy và đi về nhà. Do trời mưa nên trên đường về đến bản N 1 bị cáo trú mưa ở một lán nương không có người ở. Hồi 18 giờ 25 phút cùng ngày, bị cáo lấy gói Thuốc phiện ra chuẩn bị sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện M kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng 01 gói Thuốc phiện có khối lượng 23 gam của bị cáo.
Cáo trạng số 62/CT-VKS-MN ngày 25/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Sùng Thị C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên phạt bị cáo Sùng Thị C từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng của vụ án.
Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249 và tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt ở mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát cho bị cáo. Miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân huyện M tỉnh Điện Biên và Luận cứ bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về chứng cứ phạm tội:
Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 18 giờ 30 phút ngày 30/7/2024 bút lục 01, 02 chứng minh bị cáo Sùng Thị C bị bắt khi đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác Công an huyện M đã tạm giữ của bị cáo 01 hộp kim loại màu trắng, mở bên trong có một gói nilon trong suốt bên trong gói nilon chứa chất dẻo màu nâu đen nghi là Thuốc phiện.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, và niêm phong vật chứng gửi giám định hồi 20 giờ 50 phút ngày 30/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M bút lục số 18 thì khối lượng vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bị cáo Sùng Thị C là 23 gam nghi là Thuốc phiện.
Kết luận giám định số 1292/KL-KTHS ngày 06/8/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên bút lục số 22 đã kết luận: Vật chứng thu giữ của Sùng Thị C có khối lượng 23 gam chất nhựa màu nâu đen là chất ma túy, loại Thuốc phiện. Hoàn lại đối tượng giám định có biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định.
Kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy bị cáo Sùng Thị C có tội. Bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân. Chứng cứ xác định bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp, làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Sùng Thị C có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
[2] Về tính chất mức độ phạm tội:
Khối lượng ma túy thu giữ của Sùng Thị C là 23 gam Thuốc phiện. Khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ là ở trong khoảng từ 01 gam đến dưới 500 gam. Tính chất mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.
[3] Về nhân thân của bị cáo:
Bị cáo Sùng Thị C là người phụ nữ dân tộc Mông, sinh sống tại xã C, M, huyện M, tỉnh Điện Biên. Bị cáo là người sử dụng ma túy nhiều năm và chưa từ bỏ được. Đây là nguyên nhân chính bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.
Ngày 11/7/2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện M xét xử 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành hình phạt đến ngày 05/02/2021 ra trại. Bản án này bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính và các quyết định khác. Đến ngày 30/7/2024 bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian đã đương nhiên được xóa án tích. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng, tuy nhiên Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân xấu của bị cáo khi quyết định hình phạt.
Cũng tại bản án này bị cáo mang tên Sùng Thị C1, sinh năm 1982, đăng ký hộ khẩu thường trú ở bản N, xã C, huyện M, tỉnh Điện Biên. Quá trình điều tra, Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Điện Biên đã đối chiếu danh chỉ bản số 82 lập ngày 09/8/2024 của Sùng Thị C và danh chỉ bản số 21 lập ngày 17/4/2019 của Sùng Thị C1 đồng nhất vân tay là của một người. Hội đồng xét xử chấp nhận chứng cứ về nhân thân của bị cáo để quyết định hình phạt đúng người.
[4] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối chiếu các quy định tại khoản 1 của Điều 52 Bộ luật hình sự thì bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249 và tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt ở mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát cho bị cáo. Miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Nhận định trên đây là cơ sở để chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử xem xét và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo nhưng vẫn phải nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cai nghiện ma túy đồng thời cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
[6] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[7] Về hình phạt bổ sung:
Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, tài sản trong gia đình không có gì giá trị, bị cáo không giữ chức vụ gì trong xã hội, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Sùng Thị C.
[8] Về vật chứng: Vật chứng là 23 gam Thuốc phiện gửi toàn bộ đi giám định được hoàn lại 9,02 gam là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 01 hộp kim loại màu trắng và 01 mảnh nilon trong suốt không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ và có đơn xin miễn án phí. Do vậy Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí HSST cho bị cáo theo quy định tại Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
[10] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
[11] Các vấn đề khác: Nguồn gốc ma túy bị thu giữ bị cáo khai nhận mua một người đàn ông dân tộc Mông bị cáo không rõ lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không đủ cơ sở để xác minh làm rõ đối tượng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Sùng Thị C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Sùng Thị C 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 30/7/2024.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 9,02 gam Thuốc phiện; 01 hộp kim loại màu trắng và 01 mảnh nilon trong suốt là vật chứng còn lại sau giám định. Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng hồi 14 giờ 30 phút ngày 25/10/2024 giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện M.
4. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo Sùng Thị C.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Sùng Thị C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 14/11/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Mạnh Huấn |
Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 06/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Sùng Thị C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
