TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN Bản án số: 06/2024/HS - ST Ngày 08/11/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thu
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Bùi Văn Khiếu;
2/ Ông Lý Văn Liêm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xuân – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Mai Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn tiến hành xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 08/2024/TLST - HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST-HS ngày 25/10/2024 đối với bị cáo:
Phùng Kim L (tên gọi khác: Không), sinh ngày 06 tháng 4 năm 1996 tại tỉnh Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã H, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 01/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Không xác định và bà: Phùng Thị G; vợ, con: Chưa có.
- Tiền án: 01 tiền án. Năm 2022, Phùng Kim L bị Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 28 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo Bản án số 196/2022/HSST ngày 20/9/2022. Ngày 26/4/2024 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.
- Tiền sự: 03 tiền sự, cụ thể:
- + Ngày 13/5/2024, bị Công an xã H, huyện C, tỉnh Bắc Kạn xử phạt hành chính (cảnh cáo) về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 02/QĐ-XPHC, đã chấp hành xong, đến nay chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
- + Ngày 27/5/2024, bị Công an xã H, huyện C, tỉnh Bắc Kạn xử phạt hành chính (phạt tiền 1.500.000 đồng) về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 03/QĐ-XPHC, đã chấp hành xong, đến nay chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
- + Ngày 13/6/2024, bị Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Bắc Kạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng, theo Quyết định số 81/QĐ-XPTT, đến nay chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
- Nhân thân:
- + Ngày 19/5/2021, bị Công an xã H áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 03 tháng, đến nay được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
- + Ngày 29/6/2022 bị Ủy ban nhân dân phường X xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, mức phạt tiền 2.500.000 đồng. Bị cáo chưa chấp hành tuy nhiên đến nay đã hết thời hiệu và được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Ngoài ra, ngày 04/9/2024 Phùng Kim L bị Cơ quan CSĐT Công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn khởi tố bị can về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 175 BLHS.
Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B từ ngày 09/7/2024 cho đến nay. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
* Người bị hại:
- + Chị Vũ Thị H, sinh năm 1989; nghề nghiệp: Lao động tự do;
- Trú tại: Thôn L, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
- + Cháu Triệu Nam H1, sinh năm 2009; nghề nghiệp: Học sinh;
- Trú tại: Tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
Người đại diện theo pháp luật của bị hại Triệu Nam H1 là ông Triệu Hà L1; nghề nghiệp: Lao động tự do; trú tại: tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
- + Chị Vũ Thị K, sinh năm 1980; nghề nghiệp: Lao động tự do;
- Trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
Các bị hại và người đại diện theo pháp luật của bị hại Triệu Nam H1 đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Vũ Thanh T, sinh năm 1985; nghề nghiệp: Lao động tự do;
- Trú tại: Tổ G, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
- + Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1969; nghề nghiệp: Lao động tự do;
- Trú tại: Tổ A, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
- + Chị Nông Thu T3, sinh năm 1991; nghề nghiệp: Lao động tự do;
- Trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
*Người tham gia tố tụng khác có mặt tại điểm cầu thành phần:
- Ông Phùng Đức P - Đội trưởng Đội CSTHAHS & HTTP Công an thành phố B, tỉnh Bắc Kạn;
- Ông Đồng Văn L2 - CSNV Đội CSTHAHS & HTTP Công an thành phố B, tỉnh Bắc Kạn;
- Ông Hoàng Văn Q - CSNV Đ Công an thành phố B, tỉnh Bắc Kạn;
- Ông Triệu Đức H2 - CSNV Đội CSTHAHS & HTTP Công an thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phùng Kim L là người nghiện chất ma tuý, không có việc làm ổn định, nên để có tiền mua ma tuý sử dụng, L thường lang thang tại các khu vực trên địa bàn thành phố B, lợi dụng sơ hở của mọi người để trộm cắp tài sản. Khoảng 08 giờ ngày 07/7/2024, L đi bộ đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B thuộc tổ K, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, sau đó đi lên tầng 6, K1 điều trị tích cực và phòng chống độc với mục đích lợi dụng sơ hở của các bệnh nhân đang điều trị tại Khoa để trộm cắp tài sản. Khi đi đến trước cửa Phòng điều trị số 3 Lý ngồi ngoài ghế quan sát thấy chị Vũ Thị H (sinh năm 1989, trú tại thôn L, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, là người đến chăm sóc bệnh nhân tại Phòng điều trị số 3) đi từ trong phòng ra, L đã lẻn vào trong phòng thì thấy có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, màn hình cảm ứng đang cắm sạc để trên giường, quan sát không thấy có người trong phòng L đã nhanh chóng lấy chiếc điện thoại cho vào túi quần bên phải rồi bỏ đi ra ngoài. Ra đến ngoài đường, L thuê ông Đinh Hữu K2 (sinh năm 1964, trú tại tổ A, phường N, thành phố B, là lái xe ôm) chở đến Cửa hàng điện thoại Thanh Tuyền do anh Vũ Thanh T (sinh năm 1985, trú tại tổ G, phường N, thành phố B) làm chủ để bán chiếc điện thoại trên được số tiền là 800.000₫ (Tám trăm nghìn đồng), số tiền bán điện thoại L đã sử dụng hết vào việc tiêu xài cá nhân.
Sau khi phát hiện mất tài sản, chị Vũ Thị H đã trình báo Cơ quan Công an. Qua truy xét, Cơ quan điều tra đã xác định người thực hiện hành vi trộm cắp điện thoại là Phùng Kim L nên đã triệu tập L để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Phùng Kim L đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình. Cơ quan điều tra đã thu giữ được chiếc điện thoại nói trên, do anh Vũ Thanh T tự nguyện giao nộp.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 92/KL-HDĐGTSTXTTTHS ngày 09/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01(Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, màn hình cảm ứng, dung lượng 64GB, máy cũ đã qua sử dụng, giá trị tài sản là: 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
Quá trình điều tra xác định, ngoài lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 07/7/2024 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B thì trước đó vào ngày 06/7/2024 Phùng Kim L còn thực hiện liên tiếp hai lần trộm cắp xe đạp, cụ thể: Sáng ngày 06/7/2024, Phùng Kim L đến quán Internet “Đ" thuộc tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn của anh Đoàn Văn Q1 (sinh năm 1972) để chơi. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, L ra cửa quán thì thấy 01 chiếc xe đạp (kiểu xe địa hình) màu sơn xanh đen, đã qua sử dụng của cháu Triệu Nam H1 (sinh năm 2009, trú tại tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn) để ở gần cửa quán. Quan sát không thấy có người để ý, trông coi nên L đã nảy sinh ý định và lấy trộm chiếc xe đạp trên và đạp xe đi theo hướng Bắc Kạn - Hà Nội. Trên đường đi, L vào cửa hàng X “Tùng T1” thuộc tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, tại đây L có gặp chị Nông Thu T3 (sinh năm 1991, trú tại tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, là chủ cửa hàng) và hỏi bán lại chiếc xe đạp Lý đã trộm cắp trước đó của cháu H1 nhưng chị T3 không mua. Sau đó, L đi ra ngoài và nhìn thấy có một chiếc xe đạp thể thao, màu sơn đen vàng, đã qua sử dụng đang dựng bên ngoài (là xe của chị Vũ Thị K, sinh năm 1980, trú tại tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, mang đến sửa chữa tại cửa hàng) nên Lý lại nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này. Quan sát xung quanh thấy không có người và chị T3 không để ý, L đã dựng chiếc xe đạp trộm cắp của cháu H1 vào gần chiếc xe đạp của chị Vũ Thị K rồi lấy cắp chiếc xe của chị K, tiếp tục di chuyển theo hướng Bắc Kạn – Hà Nội. Trên đường đi, L vào cửa hàng thu mua sắt vụn của ông Nguyễn Văn C (sinh năm 1969, tại tổ A, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn) bán chiếc xe đạp vừa trộm cắp ở cửa hàng X được số tiền là 650.000₫ (Sáu trăm năm mươi nghìn đồng), L đã sử dụng hết số tiền này vào việc tiêu xài cá nhân.
Cơ quan điều tra đã thu giữ được 02 chiếc xe đạp Phùng Kim Lý trộm cắp, do anh Đoàn Mạnh T2 (chủ cửa hàng X) và ông Nguyễn Văn C (người đã mua xe của L) tự nguyện giao nộp.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 152/KL-HDĐGTSTXTTTHS ngày 20/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
- - 01 (Một) chiếc xe đạp dạng địa hình, nhãn hiệu Galaxy, màu sơn xanh đen, xe cũ đã qua sử dụng, giá trị tài sản là 1.167.000 đồng (một triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).
- - 01 (Một) chiếc xe đạp dạng thể thao; màu sơn đen, vàng; nhãn hiệu marulshi, xe cũ đã qua sử dụng, giá trị tài sản là 1.733.000 đồng (một triệu bảy trăm ba mươi ba nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản là 2.900.000 đồng (hai triệu chín trăm nghìn đồng).
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Phùng Kim L thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.
Tại Bản Cáo trạng số 73/CT – VK STPBK ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Phùng Kim L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Điều luật có nội dung:
“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Tại phiên toà:
- - Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
- Tuyên bố bị cáo Phùng Kim L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phùng Kim L từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 09/7/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thuộc hộ nghèo, là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là “phạt tiền” đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Các bị hại đều đã nhận lại tài sản bị mất nên không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Thanh T và ông Nguyễn Văn C là những người đã bỏ tiền ra mua tài sản do Phùng Kim L trộm cắp được không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại do vậy đề nghị HĐXX không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Không có.
- Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo và đã có đơn xin miễn án phí. Do vậy đề nghị miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- - Bị cáo Phùng Kim L thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
- - Các bị hại chị Vũ Thị H, chị Vũ Thị K, cháu Triệu Nam H1 và người đại diện hợp pháp của cháu H1 vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đó xác nhận các bị hại đã được trả lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu bị cáo Phùng Kim L bồi thường về dân sự. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị HĐXX xem xét theo quy định của pháp luật.
- - Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Thanh T, ông Nguyễn Văn C và chị Nông Thị Thu T3 vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đó nêu rõ họ không yêu cầu bị cáo L phải bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Phùng Kim L thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án do vậy có căn cứ xác định:
Trong các ngày 06/7/2024 và 07/7/2024, tại thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, Phùng Kim L đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Cụ thể:
- Ngày 06/7/2024, tại quán Internet “Đoàn Q1” ở tổ A, phường N, thành phố B và tại cửa hàng X ở tổ A, phường Đ, thành phố B, Phùng Kim L đã liên tiếp trộm cắp 02 chiếc xe đạp tổng trị giá 2.900.000 đồng, trong đó chiếc chiếc xe đạp (kiểu xe địa hình) màu sơn xanh đen, đã qua sử dụng của cháu Triệu Nam H1(trị giá 1.167.000 đồng) và chiếc xe đạp thể thao, màu sơn đen vàng, đã qua sử dụng của chị Vũ Thị K (trị giá 1.733.000 đồng). L đã mang bán chiếc xe đạp trộm cắp được của chị K cho ông Nguyễn Văn C (sinh năm 1969, trú tại tổ A, phường P, thành phố B) được số tiền 650.000 đồng.
- Ngày 07/7/2024, tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B thuộc tổ K, phường H, thành phố B, Phùng Kim L trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng đã qua sử dụng của chị Vũ Thị H (sinh năm 1989, trú tại thôn L, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn) trị giá 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng), mang bán cho anh Vũ Thanh T (sinh năm 1985, trú tại tổ G, phường N, thành phố B) được số tiền là 800.000 đồng.
Toàn bộ số tiền có được từ việc bán tài sản trộm cắp nêu trên, bị cáo L đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết nên không thu hồi được.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do vậy, cần phải xử lý theo pháp luật hình sự.
- Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, 01 lần bị xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn vào năm 2024; bị Công an xã H áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn vào năm 2021; bị Ủy ban nhân dân phường X xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản vào năm 2022. Ngoài ra, ngày 04/9/2024 Phùng Kim L bị Cơ quan CSĐT Công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn khởi tố bị can về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Như vậy bị cáo đã bị xét xử và bị xử phạt vi phạm hành chính nhiều lần nhưng vẫn không rút ra được bài học cho mình, không chịu tu dưỡng, rèn luyện thành công dân có ích cho xã hội mà vẫn tiếp tục phạm tội. Qua đó thể hiện bị cáo là đối tượng khó giáo dục, cải tạo, không có ý thức chấp hành pháp luật, cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Kết quả điều tra xác định: Ngày 20/9/2022, Phùng Kim L bị TAND thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 28 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, ngày 26/4/2024 Phùng Kim L chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Ngày 06/7/2024 và 07/7/2024, Lý lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản khi chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, trong ngày 06/7/2024, L liên tiếp trộm cắp 02 chiếc xe đạp, tổng trị giá 2.900.000đồng và ngày 07/7/2024, L lại trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, đã qua sử dụng, trị giá 4.500.000đồng nên Phùng Kim L phải chịu thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Ngoài hành vi trộm cắp chiếc điện thoại di động tại Bệnh viện Đ vào ngày 07/7/2024 bị Cơ quan điều tra truy xét phát hiện, bắt giữ, thì trong quá trình điều tra Phùng Kim L đã tự khai báo về hành vi trộm cắp 02 chiếc xe đạp vào ngày 06/7/2024. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” và “Người phạm tội tự thú” quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành một mức hình phạt tù nghiêm khắc mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thuộc diện hộ nghèo, bản thân bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là “phạt tiền” đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Các bị hại đều đã nhận lại tài sản bị trộm cắp nên không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự do vậy HĐXX không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, màn hình cảm ứng, dung lượng 64GB, máy cũ đã qua sử dụng, số IMEI 350588705910305; số IMEI2 350588705776011, bên trong không gắn thẻ sim, là của chị Vũ Thị H (sinh năm 1989, trú tại thôn L, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn); 01 (Một) chiếc xe đạp dạng địa hình, nhãn hiệu galaxy, màu sơn xanh đen, được mua từ năm 2021, xe cũ đã qua sử dụng, của anh Triệu Nam H1 (sinh năm 2009, trú tại tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn); 01 (Một) chiếc xe đạp dạng thể thao; màu sơn đen, vàng, nhãn hiệu marulshi, được mua từ năm 2022, xe cũ đã qua sử dụng, của chị Vũ Thị K (sinh năm 1980, trú tại tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn), xét thấy việc trả lại các vật chứng nêu trên không ảnh hưởng đến quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Cơ quan CSĐT – Công an thành phố B đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định.
- Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo và đã có đơn xin miễn án phí do đó cần miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
- Đối với anh Vũ Thanh T, ông Nguyễn Văn C là những người đã mua chiếc điện thoại di động và xe đạp do Phùng Kim L trộm cắp, tuy nhiên khi mua bán điện thoại và xe đạp thì cả hai người trên đều không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có, nên không xử lý đối với anh Vũ Thanh T, ông Nguyễn Văn C về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là đúng quy định.
- Đối với ông Đinh Hữu K2 (sinh năm 1964, trú tại tổ A, phường N, thành phố B, là lái xe ôm), ngày 07/7/2024 ông K2 chở Phùng Kim L đến cửa hàng Đ để L bán chiếc điện thoại trộm cắp được, quá trình chở L đi ông K2 không biết mục đích L đến cửa hàng điện thoại làm gì, khi đến cửa hàng ông K2 đứng ngoài đợi L nên không biết việc L trao đổi mua bán tài sản trộm cắp, do đó không xem xét xử lý ông Đinh Hữu K2 là đúng quy định.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự và án phí đối với bị cáo là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- 1. Tuyên bố: Bị cáo Phùng Kim L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phùng Kim L 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 09/7/2024.
- 2.Về án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12; Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phùng Kim L.
- 3. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nguyệt Thu |
Bản án số 06/2024/HS - ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 06/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phùng Kim L phạm tội "Trộm cắp tài sản"
