TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày 29-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lò Văn Chiên;
- Ông Đèo Văn Vĩnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2024/TLST-HS, ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST-HS, ngày 17 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng A T, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 10/10/1978, tại huyện P, tỉnh Lai Châu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản N, xã P, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 0/12 (Không biết chữ); dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Vàng C, đã chết; mẹ đẻ: Sùng Thị P, sinh năm 1953; vợ: Vàng Thị M, sinh năm 1979; bị cáo có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị N - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vàng Thị M, sinh năm 1979, địa chỉ: Bản N, xã P, huyện P, tỉnh Lai Châu, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 15 phút, ngày 19/6/2024, Vàng A T mang theo số tiền 1.200.000 đồng, sử dụng chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-564.07 đi từ nhà đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch. Mua được H, T vào bụi cây ven đường chia thành 02 phần, 01 phần Tơ cho vào một lọ nhựa màu đỏ, 01 phần Tơ gói lại bằng mảnh nilon cũ rồi đi về nhà. Về đến nhà, T dùng dao lam chia nhỏ số Heroine thành nhiều phần và lấy một ít ra sử dụng. Số Heroine còn lại, T cho vào 02 lọ nhựa, gồm 01 lọ nhựa màu đỏ và 01 lọ nhựa màu trắng. T dùng mảnh nilon màu trắng bọc bên ngoài lọ nhựa màu trắng rồi cất giấu cả 02 lọ nhựa đựng Heroine trong túi quần rồi điều khiển xe mô tô ra lán ruộng của gia đình để làm ruộng. Hồi 09 giờ 30 phút, ngày 19/6/2024, khi Vàng A T đang đi trên đường B, xã P, huyện P thì bị Công an xã P phát hiện bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, vật chứng thu giữ của Tơ là 02 lọ nhựa bên trong đựng chất bột màu trắng, dạng cục, 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-564.07. Vàng A T khai nhận chất bột màu trắng là Heroine do T mua về để sử dụng cho bản thân. Ngay sau đó, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vàng A T, thu giữ 01 chiếc bật lửa ga màu vàng và 01 con dao lam, là công cụ T dùng vào việc sử dụng Heroine.
Bản Kết luận giám định số: 50/KL-GĐVV, ngày 19/6/2024, của người giám định tư pháp theo vụ việc, kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Vàng A T có tổng khối lượng là 4,058 gam.
Bản Kết luận giám định số: 806/KL-KTHS, ngày 20/6/2024, của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: 02 mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.
Tại bản Cáo trạng số: 94/CT-VKS, ngày 03 tháng 10 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Vàng A T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Vàng A T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vàng A T từ 04 (Bốn) năm đến 04 (Bốn) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 3,897 gam Heroine còn lại sau giám định, 01 lọ nhựa màu đỏ, 01 lọ nhựa màu trắng, 01 chiếc bật lửa ga màu vàng, 01 con dao lam, 01 mảnh nilon màu trắng và vỏ niêm phong. Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-564.07, kèm theo giấy đăng ký xe. Đối với 0,161 gam Heroine trong tổng số Heroine thu giữ của bị cáo đã được gửi đi giám định không hoàn lại nên không đề cập xử lý. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo. Tranh luận với quan điểm đề nghị của người bào chữa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm luận tội đã nêu.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận với luận tội của sông, nguyên nhân phạm tội của bị cáo; áp dụng điêm c khoản 1 Điêu 249, điêm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo hình phạt ở mức thấp nhất có thể. Về vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày những nội dung liên quan đến vụ án đúng như lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác. Về vật chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nguyện vọng được xin lại tài sản là chiếc xe máy biển kiểm soát 25B1-564.07, kèm theo giấy đăng ký xe, để làm phương tiện đi lại cho gia đình. Về trách nhiệm dân sự, không có yêu cầu gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình tham gia tố tụng, người bào chữa cho bị cáo thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội mà bị cáo Vàng A T đã thực hiện:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong vật chứng, các kết luận giám định, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Vào hồi 09 giờ 30 phút, ngày 19/6/2024, tại đoạn đường thuộc khu vực bản X, xã P, huyện P, tỉnh Lai Châu, tổ công tác Công an xã P đã bắt quả tang Vàng A T đang tàng trữ trái phép 01 gói chất ma túy, dạng chất bột màu trắng. Vàng A T khai nhận, số chất bột màu trắng đó là H do T cất giấu để sử dụng. Qua kết quả trưng cầu giám định, xác định được: 01 gói chất bột màu trắng thu giữ của Vàng A T là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 4,058 gam.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ H là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Tình tiết liên quan đến vụ án: Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xác minh, xử lý đối với người đàn ông bán Heroine trong vụ án này.
Đối với Vàng Thị M là đồng sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-564.07. Quá trình điều tra xác định, khi Vàng A T sử dụng chiếc xe đi mua ma tuý thì T không hỏi ý kiến Mảnh nên M không biết. Vì vậy, M không đồng phạm với Tơ trọng vụ án này.
[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết xã hội và kiến thức pháp luật có phần còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tại phiên tòa là có căn cứ nên cần chấp nhận. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của người bào chữa về việc xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để quyết định hình phạt ở mức phù hợp đối với bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng, gồm: 3,897 gam Heroine còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và 01 mảnh nilon màu trắng, 02 lọ nhựa, 01 chiếc bật lửa ga màu vàng, 01 con dao lam, vỏ niêm phong, đều là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-564.07, kèm theo giấy đăng ký xe, do bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước. Đối với 0,161 gam Heroine trích trong số Heroine thu giữ của bị cáo đã gửi đi giám định không hoàn lại, Hội đồng xét xử không xem xét.
Quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vàng Thị M khai là đồng sở hữu đối với chiếc xe mô tô mà bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội và có nguyện vọng được xin lại chiếc xe. Do đây là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của chị M.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, bị cáo xin được của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, các Điều: 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố:
- Bị cáo Vàng A T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vàng A T: 04 (B) năm tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 19/6/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
- Xử lý vật chứng:
Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 25B1-564.07, kèm theo giấy đăng ký xe.
Tịch thu tiêu hủy: 3,897 gam Heroine còn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu trắng; 02 lọ nhựa; 01 chiếc bật lửa ga màu vàng; 01 con dao lam; vỏ niêm phong.
(Vật chứng hiện đang được lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Tình trạng vật chứng được mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 13 giờ 30 phút, ngày 04/10/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).
- Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh;
- - VKSND tỉnh;
- - Sở Tư pháp;
- - VKSND huyện Phong Thổ;
- - CA huyện Phong Thổ (CQĐT, THAHS, Nhà tạm giữ);
- - CC THADS huyện Phong Thổ;
- - Bị cáo;
- - Người bào chữa;
- - Người có QLNVLQ;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |
Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 03/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo tàng trữ TP CMT
