TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2024/KDTM-ST Ngày: 30 - 09 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đào Văn Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Đoàn Thân và bà Nguyễn Thị Chung.
Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: ông Phan Văn Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 04/2024/TLST-KDTM ngày 06 tháng 06 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-KDTM ngày 14 tháng 08 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ (viết tắt là S4); địa chỉ: số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền số 38B/2024/UQ-SeABank ngày 02/05/2024 của Ngân hàng TMCP Đ):
- Ông Nguyễn Tuấn L - Chức vụ: Chuyên viên chính XLN địa bàn Miền Trung Ngân hàng TMCP Đ; địa chỉ: Số A P, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Ông Nguyễn Xuân S (Chức vụ: Chuyên viên XLN địa bàn Miền Trung Ngân hàng TMCP Đ); địa chỉ: Số A P, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH X (viết tắt là Công ty X); địa chỉ: Tiểu khu D, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: ông Mai Văn Q - Chức vụ: Giám đốc. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Hoàng Văn S1, sinh năm 1958 và bà Mai Thị V, sinh năm 1956; cùng địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn H, huyện H,
2
tỉnh Thanh Hóa. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/05/2024 và quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình bày:
Công ty X có quan hệ vay vốn tại tại S4. Ngày 25/05/2023, hai bên thỏa thuận và ký kết Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số REF2314300407/HĐHMTDLT và Khế ước nhận nợ kèm theo, theo đó S4 cấp hạn mức tín dụng cho Công ty M tiền 30.000.000.000₫ (ba mươi tỷ đồng), trong đó hạn mức cho vay là 15.000.000.000₫ (mười lăm tỷ đồng), hạn mức cấp bảo lãnh là 30.000.000.000đ (ba mươi tỷ đồng), hạn mức thẻ SeAMileage là 200.000.000₫ (hai trăm triệu đồng); mục đích vay là để thanh toán tiền hàng cho Công ty TNHH Y theo hóa đơn VAT số 79 ngày 25/05/2023; thời hạn vay tính từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân là ngày 26/05/2023 đến ngày đến hạn là ngày 26/02/2024; kỳ hạn trả nợ gồm trả nợ gốc trả nhiều lần hoặc một lần vào cuối kỳ, trả nợ lãi vào ngày mùng 10 hàng tháng, kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 10/06/2023; lãi suất cho vay gồm lãi suất trong hạn là 11,5%/năm áp dụng trong suốt thời gian vay vốn, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Số tiền S4 đã giải ngân và Công ty X đã nhận nợ theo hợp đồng cấp hạn mức tín dụng và Khế ước nhận nợ kèm theo là 1.590.000.000đ (một tỷ năm trăm chín mươi triệu đồng).
Tài sản bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 233, tờ bản đồ số 40, diện tích 88,4m², địa chỉ tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX594187 do Ủy ban nhân dân huyện H ngày 04/04/2014 cho ông Hoàng Văn S1 và bà Mai Thị V. Tài sản này được thế chấp tại S4 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2314300407/HĐTV/BDS/181433/1 ngày 25/05/2023 giữa S4 chi nhánh T và ông Hoàng Văn S1, bà Mai Thị V. Tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Công ty X đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi cho S2 kể từ ngày 26/02/2024 cho đến nay. S4 đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu trả nợ nhưng Công ty X vẫn không thực hiện, có biểu hiện kéo dài thời gian và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.
Tính đến ngày 23/04/2024, Công ty X đã trả cho S4 số tiền 135.472.350₫ (một trăm ba mươi lăm triệu, bốn trăm bảy mươi hai nghìn, ba trăm năm mươi đồng), cụ thể: số tiền nợ gốc là 2.410.365đ (hai triệu bốn trăm mười nghìn đồng, ba trăm sáu mưới lăm đồng), số tiền lãi là 133.061.985đ (một trăm ba mươi ba triệu, không trăm sáu mươi mốt nghìn, chín trăm tám mươi lăm đồng).
Tính đến ngày 23/04/2024, Công ty X đã quá hạn 57 ngày và còn nợ S4 số tiền 1.635.972.659đ (một tỷ, sáu trăm ba mươi lăm triệu, chín trăm bảy mươi hai nghìn, sáu trăm năm mươi chín đồng), trong đó nợ gốc quá hạn là 1.587.589.635₫ (một tỷ, năm trăm tám mươi bảy triệu, năm trăm tám mươi chín nghìn, sáu trăm ba
3
mươi lăm đồng), lãi trong hạn là 5.510.548₫ (năm triệu, năm trăm mười nghìn đồng, năm trăm bốn mươi tám đồng), lãi quá hạn là 42.768.421đ (bốn mươi hai triệu, bảy trăm tám mươi sáu nghìn, bốn trăm hai mươi mốt đồng), lãi chậm trả là 86.055đ (tám mươi sáu nghìn, không trăm năm mươi lăm đồng).
Như vậy, Công ty X và các bên bảo đảm đã vi phạm cá nghĩa vụ cam kết, thỏa thuận với S4 theo Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp và các văn bản đã ký kết với S4. Vì vậy, S4 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty X phải trả nợ cho S4 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 23/04/2024 là 1.635.972.659đ (một tỷ, sáu trăm ba mươi lăm triệu, chín trăm bảy mươi hai nghìn, sáu trăm năm mươi chín đồng), trong đó nợ gốc quá hạn là 1.587.589.635đ (một tỷ, năm trăm tám mươi bảy triệu, năm trăm tám mươi chín nghìn, sáu trăm ba mươi lăm đồng), lãi trong hạn là 5.510.548đ (năm triệu, năm trăm mười nghìn đồng, năm trăm bốn mươi tám đồng), lãi quá hạn là 42.768.421đ (bốn mươi hai triệu, bảy trăm tám mươi sáu nghìn, bốn trăm hai mươi mốt đồng), lãi chậm trả là 86.055đ (tám mươi sáu nghìn, không trăm năm mươi lăm đồng); buộc Công ty X tiếp tục thanh toán cho S4 số tiền lãi, phí phát sinh theo cá mức lãi suất, phí đã thỏa thuận tại Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số REF2314300407/HĐHMTDLT ngày 25/05/2023 và Khế ước nhận nợ kèm theo kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử 30/09/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ; kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực thi hành, nếu Công ty X không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì S4 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay để xử lý thu hồi nợ cho S4 trong Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2314300407/HĐTV/BDS/181433/1 ngày 25/05/2023 giữa S4 chi nhánh T và ông Hoàng Văn S1, bà Mai Thị V là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 233, tờ bản đồ số 40, diện tích 88,4m², địa chỉ tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX594187 do Ủy ban nhân dân huyện H ngày 04/04/2014 cho ông Hoàng Văn S1 và bà Mai Thị V; nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ thì Công ty X phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho S4 cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
- Tại bản tự khai đề ngày 04/07/2024, đại diện theo pháp luật của Bị đơn là ông Mai Văn Q trình bày:
Ông thừa nhận còn nợ Ngân hàng TMCP Đ (S4) số tiền tính đến ngày 23/04/2024 là 1.635.972.659 đồng, trong đó nợ gốc là 1.584.589.635 đồng, lãi trong hạn 5.510.548 đồng, lãi quá hạn 42.786.421 đồng, lãi chậm trả là 86.055 đồng theo Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số REF2314300407/HĐHMTDLT ngày 25/05/2023 đã ký kết với ngân hàng Đ (S4).
Tuy nhiên, mặc dù thời hạn trả nợ đã quá hạn theo hợp đồng nhưng do điều kiện công ty đang gặp khó khăn về kinh tế nên để có tiền trả cho ngân hàng, ông đề nghị ngân hàng G thời hạn trả nợ cho công ty là 12 tháng kể từ ngày 04/07/2024 để Công ty có điều kiện trả nợ cho ngân hàng. Trường hợp Công ty X không thực hiện như cam kết thì ngân hàng thực hiện quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tài sản thế chấp đã thỏa thuận.
4
- Tại bản tự khai đề ngày 04/07/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Mai Thị V trình bày :
Năm 2023, vợ chồng bà với S4 chi nhánh T1 có thỏa thuận, thống nhất ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất cho ngân hàng để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của bên vay là Công ty X, cụ thể là Hợp đồng thế chấp bất động sản số REF2314300407/HĐTC/BBS/1814331 ngày 25/05/2023.
Tài sản thế chấp là: quyền sử dụng đối với thửa đất số 223, tờ bản đồ số 40, diện tích 88,4m², là đất ở đô thị tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 594187 do Ủy ban nhân dân huyện H ngày 04/04/2014 cho ông Hoàng Văn S1 và bà Mai Thị V.
Thời hạn thế chấp tài sản có hiệu lực cho đến khi bên được cấp tín dụng và bên thế chấp thực hiện xong tất cả các nghĩa vụ được bảo đảm theo hợp đồng thế chấp và các bên đã hoàn thành thủ tục xóa đăng ký thế chấp tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm có thẩm quyền.
Do Công ty X đã vi phạm Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số REF2314300470/HĐHMTDLT ngày 25/05/2023 và Khê ước nhận nợ kèm theo, để phát sinh số tiền nợ nên vợ chồng bà đồng ý việc xử lý tài sản thế chấp như đã cam kết trong hợp đồng thế chấp nếu Công ty X không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho S4.
- Tại phiên tòa:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết: buộc Công ty X phải trả nợ cho S4 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 30/09/2024 là 1.756.262.091đ (một tỷ, bảy trăm năm mươi sáu triệu, hai trăm sáu mươi hai nghìn, không trăm chín mươi mốt đồng), trong đó nợ gốc quá hạn còn lại là 1.587.589.635đ (một tỷ, năm trăm tám mươi bảy triệu, năm trăm tám mươi chín nghìn, sáu trăm ba mươi lăm đồng), lãi trong hạn là 5.510.548đ (năm triệu, năm trăm mười nghìn đồng, năm trăm bốn mươi tám đồng), lãi quá hạn là 163.161.908đ (một trăm sáu mươi ba triệu, một trăm sáu mươi mốt nghìn, chín trăm linh tám đồng) phát sinh từ Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số REF2314300470/HĐHMTDLT ngày 25/05/2023 và Khế ước nhận nợ kèm theo; buộc Công ty X phải tiếp tục thanh toán cho S4 số tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng và Khế ước nhận nợ kèm theo kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử 30/09/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ; trường hợp Công ty X không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì S4 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay để xử lý thu hồi nợ cho S4 trong Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2314300407/HĐTV/BDS/181433/1 ngày 25/05/2023 giữa S4 chi nhánh T với ông Hoàng Văn S1 và bà Mai Thị V là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 233, tờ bản đồ số 40, diện tích 88,4m², địa chỉ tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX594187 do Ủy ban nhân dân
5
huyện H ngày 04/04/2014 cho ông Hoàng Văn S1 và bà Mai Thị V; nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ thì Công ty X phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho S4 cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
Đại diện theo pháp luật của bị đơn thừa nhận còn nợ của S4 tổng số tiền tạm tính đến ngày xét xử sở thẩm 30/09/2024 như đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã trình bày và có trách nhiệm trả trả nợ cho S4. Tuy nhiên, ông đề nghị S4 gia hạn hợp đồng, miễn tiền lãi. Tuy nhiên, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không chấp nhận đề nghị của đại diện theo pháp luật của bị đơn.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: quá trình nhận đơn khởi kiện, thụ lý, giải quyết, quyết định đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự đã được thực hiện các quyền của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147. Điều 217, Điều 218, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các điều 278, 280, 292, 293, 298, 299, 317, 318, 319, 323, 357, 463, 466, 468 và 470 của Bộ luật Dân sự. Điều 4 Luật Thương mại năm. Khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng. Điều 6, Khoản 6 Điều 19, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn X phải trả cho Ngân hàng T2 tổng số tiền tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 30/09/2024 là 1.756.262.091đ (một tỷ, bảy trăm năm mươi sáu triệu, hai trăm sáu mươi hai nghìn, không trăm chín mươi mốt đồng), trong đó nợ gốc quá hạn là 1.587.589.635đ (một tỷ, năm trăm tám mươi bảy triệu, năm trăm tám mươi chín nghìn, sáu trăm ba mươi lăm đồng), nợ lãi trong hạn là 5.510.548đ (năm triệu, năm trăm mười nghìn đồng, năm trăm bốn mươi tám đồng), nợ lãi quá hạn là 163.161.908đ (một trăm sáu mươi ba triệu, một trăm sáu mươi mốt nghìn, chín trăm linh tám đồng) phát sinh từ Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số REF2314300470/HĐHMTDLT ngày 25/05/2023 và Khế ước nhận nợ kèm theo đã được các bên thỏa thuận ký kết.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Công ty X còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn X không trả được nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản đảm bảo cho khoản vay để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2314300407/HĐTV/BDS/181433/1 đã được S4 chi nhánh T với
6
ông Hoàng Văn S1 và bà Mai Thị V ký kết ngày 25/05/2023 gồm: quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 223, tờ bản đồ số 40, diện tích 88,4m², là đất ở đô thị tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 594187 do Ủy ban nhân dân huyện H ngày 04/04/2014 cho ông Hoàng Văn S1 và bà Mai Thị V. Trường hợp phát mại tài đảm bảo không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Công ty Trách nhiệm hữu hạn X phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn X phải chịu 64.687.862đ (sáu mươi bốn triệu, sáu trăm tám mươi bảy nghìn, tám trăm sáu mươi hai đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền 30.540.000đ (ba mươi triệu, năm trăm bốn mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006879 ngày 06/06/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn yêu cầu giải quyết buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền vay theo hợp đồng tín dụng; bị đơn là Công ty X, địa chỉ tại Tiểu khu D, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; các đương sự đều có đăng ký kinh doanh vì mục đích lợi nhuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải vụ án nên Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt mà không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số REF2314300407/HĐHMTDLT và Khế ước nhận nợ kèm theo giữa S4 và Công ty X là hợp đồng vay có kỳ hạn và có tính lãi, thể hiện ý chí thỏa thuận tự nguyện của hai bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải tôn trọng thực hiện, phù hợp với quy định tại các điều 463, 466, 468 và 470 của Bộ luật Dân sự.
[3]. Hợp đồng thế chấp tài sản để bảo đảm cho khoản vay giữa S4 với ông Hoàng Văn S1 và bà Mai Thị V là quyền sử dụng đối với thửa đất số 223, tờ bản
7
đồ số 40, diện tích 88,4m², là đất ở đô thị tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 594187 do Ủy ban nhân dân huyện H ngày 04/04/2014 cho ông Hoàng Văn S1 và bà Mai Thị V. Các bên tự nguyện giao kết hợp đồng và đã thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm, không có tranh chấp gì về hợp đồng thế chấp này. Do vậy, hợp đồng thế chấp tài sản phù hợp với các quy định tại các điều 292, 293, 298, 299, 317, 318, 319 và 323 của Bộ luật Dân sự.
[4]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số REF2314300407/HĐHMTDLT được ký kết ngày 25/05/2023 giữa S4 và Công ty X, thời hạn vay tính từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân theo Khế ước nhận nợ là ngày 26/05/2023 đến ngày đến hạn là ngày 26/02/2024 nhưng đến ngày 23/04/2024, Công ty X còn nợ của S4 số tiền 1.635.972.659đ (một tỷ, sáu trăm ba mươi lăm triệu, chín trăm bảy mươi hai nghìn, sau trăm năm mươi chín đồng) bao gồm tiền nợ gốc quá hạn và nợ lãi là vi phạm các điều khoản mà các bên được thỏa thuận trong hợp đồng.
[4.1]. Đối với yêu cầu trả nợ gốc quá hạn:
Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số REF2314300407/HĐHMTDLT được ký kết ngày 25/05/2023 giữa S4 và Công ty X, trong đó S4 cấp hạn mức tín dụng cho Công ty M tiền 30.000.000.000đ (ba mươi tỷ đồng), trong đó hạn mức cho vay là 15.000.000.000đ (mười lăm tỷ đồng), hạn mức cấp bảo lãnh là 30.000.000.000₫ (ba mươi tỷ đồng), hạn mức thẻ SeAMileage là 200.000.000₫ (hai trăm triệu đồng); thời hạn vay tính từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân theo Khế ước nhận nợ là ngày 26/05/2023 đến ngày đến hạn là ngày 26/02/2024. Tuy nhiên, tính đến ngày 23/04/2024 là quá hạn 57 ngày kể từ ngày đến hạn trả nợ, Công ty X còn nợ S4 số tiền nợ gốc là 1.587.589.635đ (một tỷ, năm trăm tám mươi bảy triệu, năm trăm tám mươi chín nghìn, sáu trăm ba mươi lăm đồng) là vi phạm hợp đồng nên S4 yêu cầu Công ty X phải trả số tiền nợ gốc còn lại là có căn cứ nên được chấp nhận.
Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 30/09/2024, số tiền nợ gốc còn lại Công ty X chưa trả cho S4 là 1.587.589.635đ (một tỷ, năm trăm tám mươi bảy triệu, năm trăm tám mươi chín nghìn, sáu trăm ba mươi lăm đồng). Vì vậy, buộc Công ty X phải trả số tiền nợ gốc còn lại cho S4.
[4.2]. Đối với yêu cầu trả nợ lãi trong hạn:
Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số REF2314300407/HĐHMTDLT được ký kết ngày 25/05/2023 giữa S4 và Công ty X có thỏa thuận lãi suất cho vay trong hạn là 11,5%/năm áp dụng trong suốt thời gian vay vốn.
Tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 30/09/2024, số tiền lãi trong hạn Công ty X chưa trả cho S4 là 5.510.548đ (năm triệu, năm trăm mười nghìn đồng, năm trăm bốn mươi tám đồng) nên S4 yêu cầu Công ty X phải trả số tiền này là có căn cứ nên được chấp nhận. Vì vậy, buộc Công ty X phải trả số tiền nợ lãi trong hạn cho S4.
8
[4.3]. Đối với yêu cầu trả nợ lãi quá hạn:
Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số REF2314300407/HĐHMTDLT được ký kết ngày 25/05/2023 giữa S4 và Công ty X có thỏa thuận lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn và được áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn hoặc bằng 10%/năm và được áp dụng với dư nợ lãi chậm trả.
Tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 30/09/2024, số tiền lãi quá hạn Công ty X chưa trả cho S4 là 163.161.908đ (một trăm sáu mươi ba triệu, một trăm sáu mươi mốt nghìn, chín trăm linh tám đồng) nên S3 yêu cầu Công ty X phải trả là có căn cứ nên được chấp nhận. Vì vậy, buộc Công ty X phải trả số tiền nợ lãi quá hạn cho S4.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Công ty X còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tin dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
[4.4]. Đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2314300407/HĐTV/BDS/181433/1 ngày 25/05/2023 giữa S4 chi nhánh T với ông Hoàng Văn S1 và bà Mai Thị V thể hiện việc ông S1 và bà V đồng ý thế chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 223, tờ bản đồ số 40, diện tích 88,4m², là đất ở đô thị tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 594187 do Ủy ban nhân dân huyện H ngày 04/04/2014 cho ông Hoàng Văn S1 và bà Mai Thị V để đảm bảo thực hiện toàn bộ nghĩa vụ phát sinh trước, trong và sau thời điểm ký hợp đồng thế chấp bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi của bên được cấp tín dụng đối với S4 phát sinh từ Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số REF2314300407/HĐHMTDLT được ký kết ngày 25/05/2023 giữa S4 và Công ty X. Các bên đã thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm và không có tranh chấp gì về hợp đồng này. Do vậy, hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật, các bên phải tuân thủ theo thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp Công ty X không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ nêu trên thì S4 có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp của bên thế chấp để thu hồi nợ. Trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ thì Công ty X phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho S4 cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay
[5]. Về án phí: do yêu cầu của S4 được chấp nhận, nên Công ty X phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định. Trả lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí cho S4 đã nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147. Điều 217, Điều 218, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3
9
Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các điều 278, 280, 292, 293, 298, 299, 317, 318, 319, 323, 357, 463, 466, 468 và 470 của Bộ luật Dân sự. Điều 4 Luật Thương mại năm. Khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng. Điều 6, Khoản 6 Điều 19, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T2.
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn X phải trả cho Ngân hàng T2 tổng số tiền tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 30/09/2024 là 1.756.262.091đ (một tỷ, bảy trăm năm mươi sáu triệu, hai trăm sáu mươi hai nghìn, không trăm chín mươi mốt đồng), trong đó nợ gốc quá hạn là 1.587.589.635đ (một tỷ, năm trăm tám mươi bảy triệu, năm trăm tám mươi chín nghìn, sáu trăm ba mươi lăm đồng), nợ lãi trong hạn là 5.510.548đ (năm triệu, năm trăm mười nghìn đồng, năm trăm bốn mươi tám đồng), nợ lãi quá hạn là 163.161.908đ (một trăm sáu mươi ba triệu, một trăm sáu mươi mốt nghìn, chín trăm linh tám đồng) phát sinh từ Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số REF2314300470/HĐHMTDLT ngày 25/05/2023 và Khế ước nhận nợ kèm theo đã được các bên thỏa thuận ký kết.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Công ty X còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn X không trả được nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản đảm bảo cho khoản vay để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2314300407/HĐTV/BDS/181433/1 đã được S4 chi nhánh T với ông Hoàng Văn S1 và bà Mai Thị V ký kết ngày 25/05/2023 gồm: quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 223, tờ bản đồ số 40, diện tích 88,4m², là đất ở đô thị tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 594187 do Ủy ban nhân dân huyện H ngày 04/04/2014 cho ông Hoàng Văn S1 và bà Mai Thị V.
Trường hợp phát mại tài đảm bảo không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Công ty Trách nhiệm hữu hạn X phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
- Về án phí: Công ty Trách nhiệm hữu hạn X phải chịu 64.687.862đ (sáu mươi bốn triệu, sáu trăm tám mươi bảy nghìn, tám trăm sáu mươi hai đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền 30.540.000đ (ba mươi triệu, năm trăm bốn mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006879 ngày 06/06/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
- Quyền kháng cáo: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và Đại diện theo
10
pháp luật của bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đào Văn Nam |
Bản án số 06/2024/KDTM-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 06/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty X có quan hệ vay vốn tại tại S4. Ngày 25/05/2023, hai bên thỏa thuận và ký kết Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số REF2314300407/HĐHMTDLT và Khế ước nhận nợ kèm theo, theo đó S4 cấp hạn mức tín dụng cho Công ty M tiền 30.000.000.000đ (ba mươi tỷ đồng), trong đó hạn mức cho vay là 15.000.000.000đ (mười lăm tỷ đồng), hạn mức cấp bảo lãnh là 30.000.000.000đ (ba mươi tỷ đồng), hạn mức thẻ SeAMileage là 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng); mục đích vay là để thanh toán tiền hàng cho Công ty TNHH Y theo hóa đơn VAT số 79 ngày 25/05/2023; thời hạn vay tính từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân là ngày 26/05/2023 đến ngày đến hạn là ngày 26/02/2024; kỳ hạn trả nợ gồm trả nợ gốc trả nhiều lần hoặc một lần vào cuối kỳ, trả nợ lãi vào ngày mùng 10 hàng tháng, kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 10/06/2023; lãi suất cho vay gồm lãi suất trong hạn là 11,5%/năm áp dụng trong suốt thời gian vay vốn, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Số tiền S4 đã giải ngân và Công ty X đã nhận nợ theo hợp đồng cấp hạn mức tín dụng và Khế ước nhận nợ kèm theo là 1.590.000.000đ (một tỷ năm trăm chín mươi triệu đồng). Tài sản bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 233, tờ bản đồ số 40, diện tích 88,4m2, địa chỉ tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX594187 do Ủy ban nhân dân huyện H ngày 04/04/2014 cho ông Hoàng Văn S1 và bà Mai Thị V. Tài sản này được thế chấp tại S4 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2314300407/HĐTV/BDS/181433/1 ngày 25/05/2023 giữa S4 chi nhánh T và ông Hoàng Văn S1, bà Mai Thị V. Tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Công ty X đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi cho S2 kể từ ngày 26/02/2024 cho đến nay. S4 đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu trả nợ nhưng Công ty X vẫn không thực hiện, có biểu hiện kéo dài thời gian và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 23/04/2024, Công ty X đã trả cho S4 số tiền 135.472.350đ (một trăm ba mươi lăm triệu, bốn trăm bảy mươi hai nghìn, ba trăm năm mươi đồng), cụ thể: số tiền nợ gốc là 2.410.365đ (hai triệu bốn trăm mười nghìn đồng, ba trăm sáu mưới lăm đồng), số tiền lãi là 133.061.985đ (một trăm ba mươi ba triệu, không trăm sáu mươi mốt nghìn, chín trăm tám mươi lăm đồng). Tính đến ngày 23/04/2024, Công ty X đã quá hạn 57 ngày và còn nợ S4 số tiền 1.635.972.659đ (một tỷ, sáu trăm ba mươi lăm triệu, chín trăm bảy mươi hai nghìn, sáu trăm năm mươi chín đồng), trong đó nợ gốc quá hạn là 1.587.589.635đ (một tỷ, năm trăm tám mươi bảy triệu, năm trăm tám mươi chín nghìn, sáu trăm ba mươi lăm đồng), lãi trong hạn là 5.510.548đ (năm triệu, năm trăm mười nghìn đồng, năm trăm bốn mươi tám đồng), lãi quá hạn là 42.768.421đ (bốn mươi hai triệu, bảy trăm tám mươi sáu nghìn, bốn trăm hai mươi mốt đồng), lãi chậm trả là 86.055đ (tám mươi sáu nghìn, không trăm năm mươi lăm đồng)
