Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Bản án số: 06/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27/9/2024

V/v “Ly hôn”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huế.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Lương và bà Trần Thị Thu Điệp.

-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Hương Trà.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Phú, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Trà (số E đường Đ, phường T, thị xã H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 50/2024/TLST-HNGĐ ngày 03/6/2024; Về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐST- HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2024/QĐST- HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn G, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

Bị đơn: Ông Trần Hữu T, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn G, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 05/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị D đều trình bày:

Bà và ông Trần Hữu T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã H vào ngày 10/9/1994. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông T làm nghề mộc, lấy lý do đi làm để đi chơi từ sáng đến tối, rượu chè say sưa về nhà gây gổ, đánh đập vợ con, phá hoại tài sản trong nhà. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nhưng vì con nên bà cố gắng chịu đựng. Nay các con bà đã lớn còn bản thân ông T không có gì thay đổi, vợ chồng cũng không quan tâm gì đến nhau nữa. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà khởi kiện xin ly hôn ông T để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Bà D khai bà và ông T có 02 con chung là Trần Hữu C, sinh ngày 10/9/1995 và Trần Hữu Á, sinh ngày 18/10/1998, hiện các con đều đã thành niên nên việc ở với ai là quyền của các con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Hữu T không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án, không đến Toà án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Tại phiên toà, ông T vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Tại bản trình bày ngày 24 tháng 6 năm 2024, anh Trần Hữu Á (là con trai của ông T bà D) trình bày: Qúa trình chung sống, từ nhỏ anh đã chứng kiến bố bạo hành mẹ, thường xuyên rượu chè về nhà đánh đập mẹ anh. Nay mẹ anh xin ly hôn bố anh thì đề nghị Toà án giải quyết cho mẹ anh được ly hôn để mẹ anh khỏi phải chịu cảnh bạo lực gia đình.

Tại biên bản xác minh ngày 20/8/2024 tại UBND xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế thể hiện: “ Quá trình chung sống, vợ chồng ông T và bà D có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T thường xuyên nhậu nhẹt, về nhà gây gổ với bà D, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng đã lâu...”.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xin ly hôn ông T.

Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà có ý kiến:

  1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng:

    Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

  2. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
    • - Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
    • - Quyền và nghĩa vụ của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử chưa thực hiện đúng các quy định tại khoản 16 Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

    Áp dụng khoản 1 Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

    Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị D.

    Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị D được ly hôn ông Trần Hữu T.

    Về con chung: Do các con của ông T bà D đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    Về tài sản chung, nợ chung: Do bà D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

    Về án phí: Buộc bà D phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị D khởi kiện ly hôn với ông Trần Hữu T. Ông T có nơi cư trú tại: Thôn G, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Hữu T và bà Nguyễn Thị D có quá trình chung sống với nhau, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã H vào ngày 10/9/1994 (số A, năm 1994). Như vậy, hôn nhân giữa ông T và bà D là hợp pháp.

[2.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị D, Hội đồng xét xử xét thấy:

Quá trình bà D và ông T chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông T hay rượu chè say sưa, về nhà đánh đập bà, đập phá đồ đạc làm mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Trên thực tế vợ chồng vẫn sống cùng nhà nhưng không còn quan tâm gì đến nhau là phù hợp với xác minh tại địa phương. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Toà án đã nhiều lần tống đạt giấy triệu tập, nhưng ông T không đến Toà án để làm việc, hòa giải và không tham gia xét xử tại phiên tòa, không liên lạc với bà D là thể hiện sự bỏ mặc, không có thiện chí mong muốn để hòa giải đoàn tụ gia đình, nên mục đích hôn nhân là không thể đạt được.

Xét thấy hôn nhân giữa ông T và bà D đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân không còn tồn tại trên thực tế, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận đơn của bà D, cho bà D được ly hôn ông T.

[2.3] Về con chung: Bà D và ông T có 02 con chung là Trần Hữu C, sinh ngày 10/9/1995 và Trần Hữu Á, sinh ngày 18/10/1998. Hiện các con đều đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.5] Về án phí: Bà D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị D đối với ông Trần Hữu T về việc “Ly hôn”.

    Bà Nguyễn Thị D được ly hôn ông Trần Hữu T.

  2. Về con chung: Các con chung của ông T và bà D đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà D không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Bà D phải chịu án phí ly hôn 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 1626 ngày 03/6/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà. Bà D đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TTHuế;
  • - VKSND thị xã Hương Trà;
  • - Chi cục Thi hành án thị xã Hương Trà;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Hương Toàn, thị xã Hương Trà.
  • - Lưu hồ sơ, lưu dán.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn

  • Số bản án: 06/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger