Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/DS-ST

Ngày 18-9-2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Lan Anh.

- Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Hiền và ông Ngô Mạnh Tuyển

- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Phạm Thị Quỳnh Loan - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18/9/2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 21-DS ngày 27/6/2024việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12 ngày 15/8/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 30DS ngày 05/9/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ (B)địa chỉ trụ sở: tòa nhà B, số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội

    Người đại diện theo pháp luật: ông Phan Đức T - chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Đ.

    Người đại diện theo uỷ quyền: ông Lương Đức D - Chức vụ: Phó Giám đốc phòng G theo quyết định uỷ quyền tham gia tố tụng số 1351/QĐ-BIDV.CP ngày 09/9/2024. Có mặt.

  2. Bị đơn:
    • - Anh Vũ Văn T1; địa chỉ: tổ B, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
    • - Chị Phạm Thị Hoài T2; địa chỉ: tổ B, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Trong đơn khởi kiện đề ngày 30/6/2023 và lời khai tại tòa án người đại diện của Ngân hàng TMCP Đ (B) trình bày: B đã cho anh Vũ Văn T3 Phạm Thị Hoài T2 vay vốn Anh Vũ Văn T1 và chị Phạm Thị Hoài T2 vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh C - Phòng G (sau đây gọi tắt là Ngân hàng hoặc B) theo các hợp đồng tín dụng:

- Hợp đồng tín dụng số 01/2021/8100337/HĐTD ngày 16/12/2021: số tiền vay ban đầu: 3.000.000.000 đồng; thời hạn vay: 240 tháng; mục đích vay: mua đất ở; lãi suất cho vay tại thời điểm ký HĐTD: 9,1%/ năm. Đến hết ngày 18/04/2024, anh Vũ Văn T1 và chị Phạm Thị Hoài T2 đã trả được số tiền là: 935.160.752 đồng, bao gồm: 337.500.000 đồng nợ gốc, 597.660.752 đồng nợ lãi. Số tiền còn nợ tính đến hết ngày 18/9/2023 là: 2.873.962.889 đồng (Hai tỷ, tám trăm bảy mươi ba triệu chín trăm sáu mươi hai nghìn tám trăm tám mươi tám đồng); bao gồm:

  • + Nợ gốc: 2.662.500.000 đồng (hai tỷ, sáu trăm sáu mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng).
  • + Nợ lãi trong hạn: 204.041.851 đồng ( hai trăm lẻ bốn triệu không trăm bốn mươi mốt nghìn tám trăm năm mươi mốt đồng).
  • + Lãi quá hạn: 742.839 đồng (bảy trăm bốn mươi hai nghìn tám trăm ba mươi chín đồng).
  • + Lãi phạt: 6.678.199 đồng ( sáu triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn một trăm chín mươi chín đồng).

- Hợp đồng tín dụng số 01/2022/8100337/HĐTD ngày 29/08/2022: số tiền vay: 1.800.000.000 đồng; thời hạn vay: 240 tháng; mục đích vay: sửa chữa nhà ở và hoàn thiện nội thất; lãi suất cho vay tại thời điểm ký HĐTD: 9%/ năm. Anh Vũ Văn T1 và chị Phạm Thị Hoài T2 đã trả được số tiền là: 355.726.726 đồng, bao gồm: 142.500.000 đồng nợ gốc, 213.226.726 đồng nợ lãi. Số tiền còn nợ tính đến hết ngày 18/9/2024 là: 1.788.278.396 đồng (một tỷ bảy trăm tám mươi tám triệu hai trăm bảy mươi tám nghìn ba trăm chín mươi sáu đồng); bao gồm:

  • + Nợ gốc: 1.657.500.000 đồng (một tỷ sáu trăm năm mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng);
  • + Nợ lãi trong hạn: 126.215.219 đồng (một trăm hai mươi sáu triệu hai trăm mười năm nghìn hai trăm mười chín đồng);
  • + Lãi quá hạn: 446.530 đồng (bốn trăm bốn sáu nghìn năm trăm ba mươi đồng);
  • + Lãi phạt: 4.116.647 đồng (bốn triệu một trăm mười sáu nghìn sáu trăm bốn mươi bảy đồng).

- Hợp đồng tín dụng số 01/2023/8100337/HĐTD ngày 19/04/2023: số tiền vay: 240.000.000 đồng; thời hạn vay: 120 tháng; mục đích vay: Mua sắm đồ dùng sinh hoạt; lãi suất cho vay tại thời điểm ký HĐTD: 11,5%/ năm. Anh Vũ Văn T1 và chị Phạm Thị Hoài T2 đã trả được số tiền là: 33.907.122 đồng, bao

3

gồm: 16.000.000 đồng nợ gốc, 17.907.122 đồng nợ lãi. Số tiền còn nợ tính đến hết ngày 18/9/2023 là: 241.184.454 đồng trong đó:

  • + Nợ gốc: 224.000.000 đồng (hai trăm hai mươi bốn triệu đồng);
  • + Nợ lãi trong hạn: 16.893.781 đồng (mười sáu triệu tám trăm chín mươi ba nghìn bảy trăm tám mươi mốt đồng);
  • + Lãi quá hạn: 290.673 đồng ( hai trăm chín mươi nghìn sáu trăm bảy mươi ba đồng).

Tài sản thế chấp cho các khoản vay trên là: quyền sử dụng 300m² đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất của anh T1, chị T2 tại Dự án khu đô thị M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CY 462699 do UBND thành phố C cấp ngày 16/7/2021, số vào sổ cấp GCN: CH00410 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2021/8100337/HĐBĐ ngày 16/12/2021 giữa B - Chi nhánh C và anh T1, chị T2.

Tạm tính đến hết ngày 18/9/2024, tổng dư nợ của anh Vũ Văn T1 và chị Phạm Thị Hoài T2 cho cả 03 hợp đồng là: 4.903.425.739 đồng (Bằng chữ: Bốn tỷ chín trăm linh ba triệu bốn trăm hai mươi năm nghìn bảy trăm ba mươi chín đồng).

B đề nghị Toà án:

  • - Tuyên chấm dứt các Hợp đồng tín dụng số 01/2021/8100337/HĐTD ngày 16/12/2021; Hợp đồng tín dụng số 01/2022/8100337/HĐTD ngày 29/8/2022 và Hợp đồng tín dụng số 01/2023/8100337/HĐTD ngày 19/4/2023 giữa B và anh Vũ Văn T1, chị Phạm Thị Hoài T2.
  • - Buộc anh Vũ Văn T4 chị Phạm Thị Hoài T2 phải trả cho B số tiền tính đến hết ngày 18/9/2024 là 4.903.425.739 đồng cho cả 3 hợp đồng nêu trên.
  • - Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ( ngày 18/9/2024) anh T1, chị T2 còn phải tiếp tục trả lãi theo thoả thuận tại các hợp đồng Hợp đồng tín dụng số 01/2021/8100337/HĐTD ngày 16/12/2021; Hợp đồng tín dụng số 01/2022/8100337/HĐTD ngày 29/8/2022 và Hợp đồng tín dụng số 01/2023/8100337/HĐTD ngày 19/4/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ trả nợ.
  • - Trường hợp anh Vũ Văn T1 và chị Phạm Thị Hoài T2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì B được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án, thu hồi khoản vay. Tài sản đảm bảo cho khoản vay là: quyền sử dụng 300m² đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất của anh T1, chị T2 tại Dự án khu đô thị M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CY 462699 do UBND thành phố C cấp ngày 16/7/2021, số vào sổ cấp GCN: CH00410 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2021/8100337/HĐBĐ ngày 16/12/2021 giữa B - Chi nhánh C và anh T1, chị T2.

4

Trường hợp sau khi xử lý tài sản mà số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán hết nợ thì anh T1, chị T2 vẫn phải tiếp tục trả nợ số tiền còn lại cho Ngân hàng.

Bị đơn anh Vũ Văn T5 mặt trong suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ án mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các giấy triệu tập và các quyết định của Toà án.

Bị đơn chị Phạm Thị Hoài T2 có lời khai tại hồ sơ trình bày: chị và anh Vũ Văn T1 có ký các hợp đồng tín dụng 01/2021/8100337/HĐTD ngày 16/12/2021; Hợp đồng tín dụng số 01/2022/8100337/HĐTD ngày 29/8/2022 và Hợp đồng tín dụng số 01/2023/8100337/HĐTD ngày 19/4/2023 như ngân hàng B khởi kiện. Sau khi nhận đu số tiền vay, chị và anh T1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng thoả thuận tại các hợp đồng tín dụng. Đến tháng 2/2024 do điều kiện làm ăn gặp nhiều khó khăn, các khoản thu không đủ để trả nợ nên anh chị chưa trả được gốc và lãi cho Ngân hàng theo đúng thoả thuận. Chị xác nhận số nợ gốc và lãi tại các hợp đồng tín dụng như trên số liệu ngân hàng cung cấp tại đơn khởi kiện đề ngày 19/4/2024 đã nộp tại Toà án là đúng. Về tài sản thế chấp: chị và anh T1 đã ký Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2021/8100337/HĐBĐ ngày 16/12/2021. Tài sản đảm bảo cho khoản vay là: quyền sử dụng 300m² đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất của anh T1 và chị tại Dự án khu đô thị mới phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CY 462699 do UBND thành phố C cấp ngày 16/7/2021, số vào sổ cấp GCN: CH00410.

Quan điểm của chị T2: chị đồng ý chấm dứt các hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng B. Về số tiền nợ gốc, lãi, lãi chậm trả theo 3 hợp đồng tín dụng trên tính đến hết ngày 18/4/2024 và tiếp tục tính lãi kể từ ngày 19/4/2024 cho đến khi chị và anh T1 thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận tại các hợp đồng tín dụng nêu trên chị trả chậm nhất là ngày 30/8/2024. Trường hợp chị và anh T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, chị và anh T1 đồng ý để cơ quan thi án xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng 300m² đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất của anh T1 và chị tại Dự án khu đô thị mới phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CY 462699 do UBND thành phố C cấp ngày 16/7/2021, số vào sổ cấp GCN: CH00410 để thu hồi nợ. Trường hợp sau khi xử lý tài sản mà số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán hết nợ thì anh T1, chị T2 vẫn phải tiếp tục trả nợ số tiền còn lại cho Ngân hàng.

Tại biên bản thẩm định xem xét tại chỗ ngày 12/8/2024 đối với tài sản thế chấp trong vụ án thể hiện: thửa đất có diện tích 300 m²; tài sản trên đất gồm: 01 nhà 03 tầng kết cấu bê tông cốt thép. Công trình nhà hiện nay chưa hoàn thiện, cửa ra vào và các cửa sổ bịt tôn kim loại. Diện tích tầng 1: 156m²; tầng 2: 177,5m²; tầng 3,98m².

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời

5

điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán cơ bản đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về thụ lý vụ án; xác minh thu thập tài liệu chứng cứ; việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án; Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án. Nguyên đơn chấp hành việc tuân theo pháp luật đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có lúc chưa thực hiện đến theo triệu tập của Toà án, vi phạm khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp đã phát sinh hiệu lực pháp luật; quá trình thực hiện anh T1, chị T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ do đó có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về chấm dứt 03 hợp đồng tín dụng theo quy định tại các khoản 4 Điều 8, khoản 1 Điều 9 của Điều khoản và điều kiện vay của B; Anh T1 chị T2 phải trả toàn bộ khoản tiền nợ của B. Chấp nhận yêu cầu của B xề xử lý tài sản bảo đảm căn cứ theo quy định tại các 466, 468, 317, 318, 319 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 25 Thông tư 39/2016/TT-NHNN.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Về thẩm quyền: Bị đơn có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh nên vụ án dân sự trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Xét Hợp đồng tín dụng số 01/2021/8100337/HĐTD ngày 16/12/2021; Hợp đồng tín dụng số 01/2022/8100337/HĐTD ngày 29/8/2022 và Hợp đồng tín dụng số 01/2023/8100337/HĐTD ngày 19/4/2023 mà B đã ký với anh Vũ Văn T1 và chị Phạm Thị Hoài T2, hợp đồng thế chấp bất động sản mà B đã ký kết để đảm bảo cho cả 03 hợp đồng tín dụng trên là sự tự nguyện thỏa thuận của các bên, đảm bảo các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, Luật các Tổ chức tín dụng và các quy chế, quy định của ngân hàng N; điều khoản và điều kiện vay của B. Các Hợp đồng trên đã phát sinh hiệu lực.

Anh T1, chị T2 đã nhận đủ số tiền vay và đã thực hiện được một phần nghĩa vụ thanh toán cho B theo Hợp đồng đã ký kết. Từ tháng 02/2024 đến nay, anh T1, chị T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên B khởi kiện yêu cầu chấm dứt hợp đồng trên là đảm bảo quy định tại khoản 4 Điều 8, khoản 1 Điều 9 của điều khoản và điều kiện vay của B nên có cơ sở chấp nhận.

- Về số tiền nợ B: xét yêu cầu về trả nợ gốc, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi phạt chậm trả của B (trừ Hợp đồng tín dụng số 01/2023/8100337/HĐTD ngày 19/4/2023 không yêu cầu trả lãi phạt chậm trả) tại các Hợp đồng tín dụng số đã ký kết được tính phù hợp với quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng và các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015 và khoản 4 Điều

6

13 thông tư số 39/2016/TT-NHNN của ngân hàng N nên có căn cứ để chấp nhận.

[3] Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của B phù hợp với thoả thuận tại điều 1, 2 của hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2021/8100337/HĐBĐ ngày 16/12/2021 giữa B và anh T1, chị T2. Quá trình thực hiện 03 hợp đồng tín dụng anh T1, chị T2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, B có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp cho cả 03 hợp đồng tín dụng nêu trên là có cơ sở chấp nhận. Tài sản thế chấp là: 300m² đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất gồm: 01 nhà 03 tầng kết cấu bê tông cốt thép. Công trình nhà hiện nay chưa hoàn thiện, cửa ra vào và các cửa bịt tôn kim loại. Diện tích tầng 1: 156m²; tầng 2: 177,5m²; tầng 3:98m² tại Dự án khu đô thị M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất mang tên bà Nguyễn Thị Ngọc M chuyển nhượng cho anh Vũ Văn T1 và chị Phạm Thị Hoài T2 ngày 15/12/202; số CY 462699 do UBND thành phố C cấp ngày 16/7/2021, số vào sổ cấp GCN: CH00410.

[4] Về án phí: bị đơn phải chịu án phí dân sự do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận.

- Về chi phí tố tụng: chi phí thẩm định xem xét tại chỗ tài sản tranh chấp là 7.300.000 đồng; chi phí này cần buộc bị đơn phải chịu; B đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng, nay cần buộc anh T1, chị T2 hoàn trả lại cho B.

[5] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, 271, 273, 157,158 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 299, 303, 293, 317, 318, 319, 320, 321,322, 357, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng; khoản 4 Điều 13 thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của ngân hàng N; Điều 7, Điều 8, Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm”; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng B:
    1. Chấm dứt các Hợp đồng tín dụng số 01/2021/8100337/HĐTD ngày 16/12/2021; Hợp đồng tín dụng số 01/2022/8100337/HĐTD ngày 29/8/2022 và Hợp đồng tín dụng số 01/2023/8100337/HĐTD ngày 19/4/2023 .

7

    1. Buộc anh Vũ Văn T1 và chị Phạm Thị Hoài T2 phải có nghĩa vụ trả cho B số tiền tính đến ngày 18/9/2024 số tiền là: 4.903.425.739 đồng (Bốn tỷ chín trăm linh ba triệu bốn trăm hai mươi năm nghìn bảy trăm ba mươi chín đồng) trong đó:
      • - Hợp đồng tín dụng số 01/2021/8100337/HĐTD ngày 16/12/2021: tổng số nợ là: 2.873.962.889 đồng (hai tỷ, tám trăm bảy mươi ba triệu, chín trăm sáu mươi hai nghìn, tám trăm tám mươi chín đồng). Bao gồm:
        • + Nợ gốc: 2.662.500.000 đồng (hai tỷ, sáu trăm sáu mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng);
        • + Nợ lãi: 204.041.851 đồng (hai trăm lẻ tư triệu, không trăm bốn mươi mốt nghìn, tám trăm năm mươi mốt đồng);
        • + Lãi quá hạn: 742.839 đồng (bảy trăm bốn mươi hai nghìn, tám trăm ba mươi chín đồng);
        • + Lãi chậm trả: 6.768.199 đồng (sáu triệu, bảy trăm sáu mươi tám nghìn, một trăm chín mươi chín đồng).
      • - Hợp đồng tín dụng số 01/2022/8100337/HĐTD ngày 29/8/2022 là: tổng số nợ là 1.788.278.396 đồng (một tỷ, bảy trăm tám mươi tám triệu, hai trăm bảy mươi tám nghìn, ba trăm chín mươi sáu đồng). Bao gồm:
        • + Nợ gốc: 1.657.500.000 đồng (một tỷ sáu trăm năm mươi bảy triệu, năm trăm nghìn đồng);
        • + Nợ lãi trong hạn: 126.215.219 đồng (một trăm hai mươi sáu triệu, hai trăm mười lăm nghìn, hai trăm mười chín đồng);
        • + Lãi quá hạn: 446.530 đồng (bốn trăm bốn mươi sáu nghìn, năm trăm ba mươi đồng);
        • + Lãi chậm trả: 4.116.647 đồng (bốn triệu, một trăm mười sáu nghìn, sáu trăm bốn mươi bảy đồng).
      • - Hợp đồng tín dụng số 01/2023/8100337/HĐTD ngày 19/4/2023 là: tổng số nợ là 241.184.454 đồng (hai trăm bốn mươi mốt triệu, một trăm tám mươi tư nghìn, bốn trăm năm mươi tư đồng). Bao gồm:
        • + Nợ gốc: 224.000.000 đồng (hai trăm hai mươi tư triệu đồng);
        • + Nợ lãi trong hạn: 16.893.781 đồng (mười sáu triệu, tám trăm chín mươi ba nghìn, bảy trăm tám mươi mốt đồng);
        • + Lãi quá hạn: 290.673 đồng (hai trăm chín mươi nghìn, sáu trăm bảy mươi ba đồng).
    2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, buộc anh Vũ Văn T1 và chị Phạm Thị Hoài T2 phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 01/2021/8100337/HĐTD ngày 16/12/2021; Hợp đồng tín dụng

8

số 01/2022/8100337/HĐTD ngày 29/8/2022 và Hợp đồng tín dụng số 01/2023/8100337/HĐTD ngày 19/4/2023.

- Trường hợp trong các hợp đồng tín dụng trên, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của B cho vay thì lãi suất mà anh T1, chị T2 phải tiếp tục thanh toán cho B theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của B cho vay.

Kể từ ngày Ngân hàng B có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Vũ Văn T1 và chị Phạm Thị Hoài T2 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ tại hợp đồng tín dụng nêu trên thì BIDV có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của khoản vay là: quyền sử dụng 300m² đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất của anh T1 và chị T2 gồm: 01 nhà 03 tầng kết cấu bê tông cốt thép. Công trình nhà hiện nay chưa hoàn thiện, cửa ra vào và các cửa bịt tôn kim loại. Diện tích tầng 1: 156m²; tầng 2: 177,5m²; tầng 3:98m² tại Dự án khu đô thị M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CY 462699 do UBND thành phố C cấp ngày 16/7/2021, số vào sổ cấp GCN: CH00410.

1.4. Trường hợp sau khi xử lý tài sản trên của anh T1, chị T2 mà số tiền thu được không đủ trả nợ, anh T1, chị T2 vẫn phải tiếp tục trả nợ số tiền còn lại cho Ngân hàng B.

  1. Về án phí: anh T1, chị T2 phải chịu 112.903.425đồng ( một trăm mười hai triệu chín trăm lẻ ba nghìn bốn trăm hai mươi năm đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho B số tiền 56.348.331 đồng (năm mươi sáu triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn ba trăm ba mươi mốt đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0002348 ngày 25/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
  2. Về chi phí tố tụng: buộc anh Vũ Văn T1 và chị Phạm Thị Hoài T2 phải chịu 7.300.000 đồng (bảy triệu ba trăm nghìn đồng). B đã tạm ứng khoản tiền trên nên buộc anh T1, chị T2 có nghĩa vụ hoàn trả cho B. Kể từ ngày B có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, anh T1, chị T2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

(Kèm theo bản án là sơ đồ khảo sát hiện trạng sử dụng đất của công ty cổ phần

9

Đ1).

Nơi nhận:

  • - VKSND tp. Cẩm Phả;
  • - Chi cục THADS Tp. Cẩm Phả;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thị Lan Anh

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/DS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 06/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BIDV dòi nợ anh TR chị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger