|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 06/2024/DS – ST Ngày 16 tháng 9 năm 2024 V/v: “Tranh chấp về yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Chí;
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thìn và ông Hà Đức Trưởng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hải Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Đinh Xuân Tiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2023/TLST- DS ngày 23 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp về yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa tòa số: 21/2024/QĐST-DS ngày 30/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa tòa số: 25/2024/QĐST-DS ngày 26/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
+ Anh Nguyễn Tá D, sinh năm 1986 (có mặt);
+ Chị Hà Thị H, sinh năm 1988 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ tại: Khu E, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ;
Người đại diện theo ủy quyền của chị H: Anh Nguyễn Tá D, sinh năm 1986;
địa chỉ: Khu E, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt);
- Bị đơn:
Chị Hà Kiều O, sinh năm 1978; Địa chỉ: Khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt);
- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1961; Địa chỉ: thôn H, xã C, huyện B, thành phố Hà Nội (đề nghị xét xử vắng mặt);
+ Anh Phùng Văn H1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (đề nghị xét xử vắng mặt);
+ Ông Nguyễn Tá H2, sinh năm 1966 (vắng mặt);
+ Bà Cấn Thị C, sinh năm 1966 (vắng mặt);
1
Cùng địa chỉ tại: Khu E, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ;
+ Anh Nguyễn Mạnh C1, sinh năm 1993; Địa chỉ: Khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền của ông H2, bà C, anh C1: Anh Nguyễn Tá D, sinh năm 1986; địa chỉ: Khu E, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
[1]. Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/10/2023, những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Nguyên đơn, Người đại diện theo ủy quyền cho Nguyên đơn, anh Nguyễn Tá D trình bày:
- Về nguồn gốc và quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Toàn bộ thửa đất mà gia đình anh D đang sử dụng đều có nguồn gốc từ nhà chị O. Thời điểm đầu, chị O là chủ sử dụng cả dải đất đó, sau chị O chuyển nhượng cho nhiều người anh D không nắm được. Đối với phần đất của gia đình anh thì bắt nguồn từ việc bố mẹ anh là ông Nguyễn Tá H2 và bà Cấn Thị C nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn T người ở B - Hà Nội 5m chiều dài mặt đường quốc lộ 32A, tiếp đó bố mẹ anh nhận chuyển nhượng thêm 3m chiều dài từ chị O, tổng cộng ông H2, bà C có 8m chiều dài mặt đường; vào tháng 4/2023, ông H2, bà C đã tiến hành tặng cho lại anh và em trai là anh Nguyễn Mạnh C1 mỗi người 4m chiều dài mặt đường.
Ngày 28/4/2023, Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ anh Nguyễn Tá D đối với thửa đất có diện tích 61m², tại tờ bản đồ số 28, thửa số 498, mục đích sử dụng: đất ở tại khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- Quá trình sử dụng đất và phát sinh tranh chấp:
Thời điểm sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất trên, khoảng tháng 7/2023, anh D tiến hành xây dựng công trình nhà ở. Quá trình xây dựng, anh đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành đo đạc, bàn giao hiện trạng đất và cấp phép xây dựng. Thời điểm anh D đổ xong mái tầng 1, thì hộ liền kề là hộ chị Hà Kiều O có thông báo là nhà anh D xây lấn sang nhà chị O khoảng gần 40cm và cản trở, không cho anh D xây dựng tiếp.
Cuối năm 2023, anh D đã làm đơn đề nghị UBND xã T giải quyết yêu cầu chị O phải chấm dứt hành vi cản trở nêu trên. U nhưng không thành.
- Anh Dũng yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc chị Hà Kiều O phải chấm dứt việc cản trở anh xây dựng công trình nhà ở trên thửa đất số 498, tờ bản đồ số 28 tại khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ mà anh đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 065381 ngày 28/4/2023.
[2]. Phía bị đơn, trong quá trình giải quyết vụ án chị Hà Kiều O trình bày:
- Về nguồn gốc và quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Toàn bộ dải đất bao gồm thửa đất của anh Nguyễn Mạnh C1, thửa đất của
2
anh Nguyễn Tá D và thửa đất hiện chị O đang sử dụng có nguồn gốc đầu tiên là từ bố mẹ chị O để lại, sau đó chị O chuyển nhượng cho một số người khác, rồi những người này bán lại cho ông Nguyễn Tá H2 là bố đẻ anh Nguyễn Tá D 5m chiều dài mặt đường. Sau đó vào năm 2021, ông Nguyễn Tá H2 mua thêm của chị O 3m chiều dài mặt đường, với giá thời điểm đó là 900.000.000VNĐ (chín trăm triệu đồng). Như vậy, ông H2 có tổng chiều dài đất tính theo mặt đường là 8m.
Khi hai bên chuyển nhượng đất, địa chính xã cắm mốc giới cho hai bên, vị trí là cột điện thắp sáng hiện bây giờ vẫn còn tồn tại.
- Quá trình sử dụng đất và phát sinh tranh chấp:
Tháng 7/2023, chị O có xây dựng nhà ở trên đất, chị O xây trước nhà anh D khoảng 3 ngày. Khi xây nhà chị O có để chừa lại phía tiếp giáp nhà anh D khoảng 20cm để làm đường ống nước và phù hợp với hướng nhà. Khi anh D ép cọc Bê tông làm móng, chị O có thông báo cho anh D việc chị để chừa lại đất. Tuy nhiên, anh D thông báo lại rằng, cán bộ địa chính đã cắm mốc đến đâu anh sẽ làm đến đó. Vì vậy, anh D đã xây lấn sang phần đất mà chị O để chừa lại.
Nay anh D khởi kiện yêu cầu chị chấm dứt hành vi cản trở việc anh D xây dựng công trình nhà ở, chị không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh D.
[3]. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đứng về phía Nguyên đơn trình bày:
3.1. Ông Nguyễn Tá H2 và bà Cấn Thị C trình bày:
Đồng ý với quan điểm trình bày của anh Nguyễn Tá D. Khoảng năm 2018, vợ chồng ông bà có nhận chuyển nhượng 5m đất mặt đường, diện tích khoảng 76m² từ ông Nguyễn Văn T (người Ba Vì, Hà Nội). Một phía giáp đất nhà anh Phùng Đức H3 và phía còn lại giáp đất nhà chị Hà Kiều O. Sau đó, đến năm 2021, vợ chồng ông bà tiếp tục nhận chuyển nhượng 3m đất mặt đường từ chị O phía giáp với thửa đất trên, diện tích khoảng 46,1m². Tổng cộng hai vợ chồng có 8m đất mặt đường, diện tích 122,1m². Ông bà đã thực hiện các thủ tục hợp thửa rồi tặng cho cho hai con trai ruột là anh Nguyễn Tá D và anh Nguyễn Mạnh C1 mỗi người 4m đất mặt đường. Quá trình nhận chuyển nhương đất không phát sinh tranh chấp gì với 02 hộ giáp ranh là hộ anh Phùng Đức H3 và hộ chị Hà Kiều O.
Về yêu cầu khởi kiện của anh D với chị O: Ông Nguyễn Tá H2 và bà Cấn Thị C đề nghị Toà án giải quyết đúng theo quy định pháp luật.
3.2. Anh Nguyễn Mạnh C1 trình bày:
Đồng ý với quan điểm trình bày của anh Nguyễn Tá D. Nguồn gốc thửa đất tại khu A, xã T mà hiện nay vợ chồng anh đang sử dụng có nguồn gốc là được nhận tặng cho từ bố mẹ anh là ông Nguyễn Tá H2 và bà Cấn Thị C. Đất do bố mẹ anh mua từ ông Nguyễn Văn T và chị Hà Kiều O sau đó chia cho anh và anh D mỗi người ½ diện tích đất. Quá trình sử dụng đất không có phát sinh tranh chấp gì với anh Phùng Đức H3 và anh Nguyễn Tá D là hai hộ giáp ranh.
3
Về yêu cầu khởi kiện của anh D với chị O: Anh Nguyễn Mạnh C1 đề nghị Toà án giải quyết đúng theo quy định pháp luật.
[4]. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan do Tòa án đưa vào, trình bày:
4.1. Anh Phùng Đức H3 trình bày:
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 25/3/2024, anh H3 trình bày: Thửa đất hiện nay gia đình anh đang sử dụng có nguồn gốc là do anh nhận chuyển nhượng từ ông Trần Văn S vào năm 2015. Trước đó, ông S mua thửa đất này từ chị Hà Kiều O. Chiều rộng tính theo mặt đường của thửa đất là 5m, chiều sâu hết thửa đất. Sau khi mua đất, anh đã tiến hành xây dựng công trình nhà ở kiên cố, xây khung cứng, móng lệch và xây hết đất. Quá trình sử dụng đất, anh không phát sinh tranh chấp gì với hộ giáp ranh là hộ anh Nguyễn Mạnh C1.
Về yêu cầu khởi kiện của anh D với chị O: Anh Nguyễn Mạnh C1 đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
4.2. Ông Nguyễn Văn T trình bày:
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 08/7/2024, ông T trình bày: Năm 2015, ông có nhận chuyển nhượng một thửa đất diện tích 76m² từ ông Trần Văn S, sinh năm 1971, trú tại: khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Thời điểm đó ông S có thửa đất diện tích 150m² tại khu 10A, xã T; ông S đã tách thửa và chuyển nhượng cho anh Phùng Đức H3 diện tích 74m² và chuyển nhượng cho ông T 76m² đất còn lại giáp ranh với đất nhà anh H3. Đến năm 2018, do không có nhu cầu sử dụng nên ông đã chuyển nhượng lại thửa đất trên cho ông Nguyễn Tá H2 và bà Cấn Thị C.
Về yêu cầu khởi kiện của anh D với chị O: Ông Nguyễn Văn T đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
[5]. Đại điện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự;
- Về nội dung giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tá D đối với chị Hà Kiều O.
Đối với đất và tài sản trên đất: Do chị O không phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đề nghị không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về án phí, chi phí tố tụng: anh Nguyễn Tá D phải chịu tiền án phí, chi phí tố tụng khác theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đông xét xử nhận định:
[1]. Về trình tự, thủ tục tố tụng:
Anh Nguyễn Tá D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về Yêu
4
cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất đối với chị Hà Kiều O, trú tại: khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Tá D có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải. Vì vậy, Tòa án xác định đây là vụ án không thể tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.
Về sự vắng mặt của Bị đơn: Tại phiên tòa ngày hôm nay, chị Hà Kiều O vắng mặt lần thứ ba không có lý do. Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị O. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn xét xử vắng mặt Bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
Về sự vắng mặt của các đương sự khác: Tại phiên tòa ngày hôm nay, chị H, ông H2, bà C và anh C1 đều uỷ quyền cho anh D đại diện tham gia tố tụng. Ông T và anh H3 đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1, 2 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn xét xử vắng mặt các đương sự trên là đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án.
Anh Dũng yêu cầu chị O phải chấm dứt hành vi cản trở anh xây dựng công trình nhà ở trên thửa đất số 498 tờ bản đồ số 28 diện tích 61m² tại khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ mà anh được UBND huyện T, tỉnh Phú Thọ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng ngày 28/4/2023. Chị O cho rằng, anh D đã xây dựng nhà lấn sang một phần diện tích đất mà chị để chừa lại đề làm đường ống nước nên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh D.
Xét thấy:
2.1. Về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Nguyễn Tá D và chị Hà Thị H:
- Về nguồn gốc đất, quá trình được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh D, chị H:
Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ do Nguyên đơn giao nộp cho Toà án, căn cứ lời khai của các bên đương sự và UBND xã T thông tin địa chính, Hội đồng xét xử xác định được như sau:
Năm 2014 hộ ông Trần Văn S, trú tại: khu A, xã T được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 147, tờ bản đồ số 28, diện tích 150 m² với kích thước chiều rộng tính theo mặt đường là 10 m, chiều sau của thửa đất là 15m. Đến ngày 21/05/2015, hộ ông Trần Văn S có tách thửa chuyển nhượng đất cho anh Phùng Đức H3 là 5m mặt đường với diện tích là 74 m², thông tin thửa đất số 347, tờ bản đồ số 28; Chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Văn T là 5m mặt đường với diện tích là 76 m², thông tin thửa đất số 147, tờ bản đồ số 28, sau khi
5
nhận chuyển nhượng anh H3 đã xây dựng nhà ở kiên cố.
Đến ngày 18/06/2018, ông Nguyễn Văn T tiếp tục chuyển nhượng thửa đất số 147, tờ bản đồ số 28, diện tích 76 m² cho hộ ông Nguyễn Tá H2 sử dụng, sau khi hộ ông H2 nhận chuyển nhượng đất từ ông T thì đến ngày 18/03/2021 có mua thêm đất từ chị Hà Kiều O là 3m mặt đường diện tích 46,1m² tại thửa đất 457, tờ bản đồ số 28. Sau đó hợp thửa đất số 147, tờ bản đồ số 28 và thửa đất số 457, tờ bản đồ số 28 thành thửa đất số 157, tờ bản đồ số 28, diện tích 121,1 m². Tiếp đó đến ngày 06/04/2023 hộ ông Nguyễn Tá H2 tách thửa ra và tiến hành tặng cho hai con trai là anh Nguyến T1 D thửa đất số 498, tờ bản đồ số 28, diện tích 61 m²; cho anh Nguyễn Mạnh C1 thửa đất số 499, tờ bản đồ số 28, diện tích 61,1 m².
Anh Nguyễn Tá D đã đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất và được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành: DI 065381, số vào sổ cấp GCN: CH 03976, cấp ngày 28/4/2023.
Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định, thửa đất của anh D, anh C1 và anh H3 là 03 thửa đất liền kề, giáp ranh với nhau. Quá trình sử dụng đất, giữa các hộ không có phát sinh tranh chấp gì.
- Về quá trình sử dụng đất của anh D, chị H:
Theo tài liệu, chứng cứ mà anh D cung cấp thì, ngày 11/7/2023, gia đình anh được UBND huyện T cấp Giấy phép xây dựng công trình nhà ở trên thửa đất số 498, tờ bản đồ số 28, diện tích 61m². Theo đó, mặt bằng xây dựng là 61m² (100% diện tích đất ở), quy mô 03 tầng, tổng diện tích sàn: 183m². Ngay sau đó, gia đình anh đã khởi công xây dựng công trình.
2.2. Về yêu cầu khởi kiện tranh chấp “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất” của anh D đối với chị O:
Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thấy rằng:
Hộ anh Phùng Văn H1 và hộ anh Nguyễn Mạnh C1 sử dụng đúng theo phần diện tích đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Anh H1 đã xây dựng nhà ở kiên cố từ năm 2015. Quá trình sử dụng đất hai hộ gia đình trên không có phát sinh tranh chấp gì với nhau cũng như với hộ anh Nguyễn Tá D.
Xem xét hiện trạng sử dụng đất của hộ anh D, chị H, thấy rằng:
Hộ anh D đang sử dụng phần đất có chỉ giới 2,3,4,5,6,2 = 61m². Ranh giới đất, chiều rộng mặt tiền của thửa đất tiếp giáp với đường giao thông là: 1,81m + 2,84m; chiều dài của thửa đất phía giáp nhà anh C1 là: 15,58m; chiều dài của thửa đất phía giáp nhà chị O là: 14,27m; chiều rộng mặt phía sau của thửa đất, tiếp giáp đường giao thông là: 4m.
Đối chiếu với quyền sử dụng đất hộ anh D được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 498, tờ bản đồ số 28, diện tích là 61m², thì thấy: chỉ giới đất và diện tích đất phù hợp với Giấy chứng nhận được cấp.
6
Về tài sản trên đất gồm có: Nhà ở đang trong quá trình xây dựng. Hiện trạng công trình xây dựng dở dang, đã xong phần móng, phần tầng hầm và là mặt bằng tầng 1, phần nổi cao 3m. Nhà ở xây dựng kiểu nhà ống (Hình khối hộp chữ nhật). Diện tích xây dựng thực tế: (4m x 15,58m) = 62,32 m2. Kết cấu bằng bê tông cốt thép; Một số phần tường bao tầng hầm xây gạch chỉ.
Đối chiếu với Giấy phép xây dựng số 25, ngày 11/7/2023 của UBND huyện T cấp cho hộ anh Nguyễn Tá D thì thấy: hộ anh D đã xây dựng công trình nhà ở với diện tích sàn (tầng 1) vượt quá 1,32m² so với Giấy phép được cấp. Bên cạnh đó, trong Biên bản định giá ngày 14/5/2024, Hội đồng định giá thường xuyên huyện T đã xem xét hồ sơ sau cấp phép xây dựng và thấy rằng hộ anh Nguyễn Tá D đã không Thông báo thời gian khởi công công trình đến UBND xã T cũng như không có biên bản kiểm tra hiện trạng công trình xây dựng dẫn tới xảy ra tranh chấp.
Ở vị trí giáp ranh giữa thửa đất của hộ anh Nguyễn Tá D và thửa đất của chị Hà Kiều O có một phần đất diện tích 4,3m². Hiện trạng: chiều rộng mặt tiền của thửa đất tiếp giáp với đường giao thông là: 0,38m; chiều dài của thửa đất phía giáp nhà anh D là: 14,5m; chiều dài của thửa đất phía giáp nhà chị O là: 14,27m; chiều rộng mặt phía sau của thửa đất, tiếp giáp đường giao thông là: 0,19m.
Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định, hộ anh Nguyễn Tá D đã xây dựng công trình nhà ở không đúng với Giấy phép xây dựng được cấp và đã lấn sang một phần đất thuộc quyền sử dụng của chị Hà Kiều O. Đây hoàn toàn là lỗi chủ quan thuộc về phía hộ anh D.
Từ những nhận định, đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất của anh Nguyễn Tá D đối với chị Hà Kiều O là không có căn cứ để chấp nhận.
2.3. Về yêu cầu trả lại đất của chị O đối với anh D:
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 05/12/2023, chị Hà Kiều O có khai rằng muốn yêu cầu anh D phải trả lại phần đất mà anh D đã xây dựng sang nhà chị. Tuy nhiên, sau đó Toà án đã báo gọi chị O đến tham gia Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vào các ngày 21/6/2024 và ngày 28/6/2024 thì chị O đều vắng mặt không có lý do.
Đến ngày 13/9/2024, Toà án đã đến nơi cư trú của chị O để làm việc cũng như giải thích về việc chị có quyền yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Mặc dù đã được Toà án giải thích, nhưng chị O đã từ chối làm việc và từ chối nhận các văn bản tố tụng.
Xét thấy, cho đến phiên toà ngày hôm nay, chị Hà Kiều O vẫn không có Đơn phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử chỉ xem xét trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tá D mà không xem xét giải quyết yêu cầu trả lại đất của chị O trong vụ án này là phù hợp. Nếu sau này chị Hà Kiều O có đơn khởi kiện thì sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định.
7
[3]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản:
Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền 3.000.000 đồng. Theo Danh sách chi tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thì số tiền đã chi là 3.000.000 đồng.
Do yêu cầu của Nguyên đơn không được chấp nhận, nên Nguyên đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản là phù hợp khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự. Xác nhận, Nguyên đơn đã nộp đủ.
[4]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 26 và Danh mục ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Nguyên đơn phải chịu án phí do toàn bộ yêu cầu của Nguyên đơn không được chấp nhận.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[6]. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 12, 166, 170 của Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ các khoản 2, 4, 11 Điều 12; khoản 1 Điều 89; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 107 của Luật xây dựng năm 2020;
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 163, 164, 166, 169, 174, 175 và Điều 176 của Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 và điểm a khoản 2 Điều 27 và Danh mục được ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất của anh Nguyễn Tá D đối với chị hà Kiều O.
- Về đất và tài sản trên đất: Không xem xét giải quyết trong vụ án này.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Anh Dũng phải nộp 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, xác nhận đã nộp đủ.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Tá D phải chịu 300.000đ (ba trăm
8
nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm. Xác nhận anh D đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án theo Biên lai thu số 0004503 ngày 23/10/2023.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
- Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đinh Văn Chí |
9
10
Bản án số 06/2024/DS – ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp về yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất
- Số bản án: 06/2024/DS – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh D khởi kiện chị O chấm dứt hành vi cản trở QSD đất
