Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/KDTM-ST

Ngày 09-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng

mua bán hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Nguyễn Văn Hiếu
    • Ông Đỗ Văn Minh.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diễm Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 12/2022/TLST-KDTM ngày 16 tháng 11 năm 2022 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST-KDTM ngày 26 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 12 /2024/QÐST-KDTM ngày 26 tháng 7 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 628/TB-TA ngày 16 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Công ty Cổ phần V (viết tắt là Vinam Petrol); địa chỉ: Số B đường B khu dân cư A, phường T, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Trang N; nơi cư trú: C03 L, Block, L, số E H, phường B, quận G, thành phố Hồ Chí Minh theo văn bản ngày 01/4/2024 của Vinam P; vắng mặt (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
  • - Bị đơn: Công ty trách nhiệm Hữu hạn V1 (viết tắt là Công ty V1) địa chỉ trụ sở: Số B đường B, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị N1; nơi cư trú: Số B đường B, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng là Giám đốc – Công ty trách nhiệm Hữu hạn V1; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24/3/2022,bản tự khai ngày 01/6/2023 và ngày 07/5/2024 trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là Vinam P trình bày:

Ngày 05/03/2018, Công ty Cổ phần V và Công ty V1 đã ký kết hợp đồng cung ứng nhiên liệu số 0503 - VP - TT/HĐCU-2018. Theo Hợp đồng, bên A là Vinam Petrol sẽ cung cấp các mặt hàng xăng dầu gồm xăng RON 95/92 không chì, dầu Diesel (DO 0,05% S), dầu Mazut (F).... theo số lượng được thể hiện bằng đơn đặt hàng của bên B là Công ty V1; Đơn vị tính: Lít tại điều kiện thực tế (nhiệt độ, áp suất môi trường) đối với dầu Diesel hoặc kg với dầu Mazut(F0); Quy cách phẩm chất: Theo tiêu chuẩn chất lượng mà V2 cam kết và phù hợp với tiêu chuẩn Việt Nam đối với các mặt hàng xăng dầu; số lượng: Thời gian giao hàng cụ thể của mỗi đợt giao hàng sẽ được bên B báo cho bên A bằng đơn đặt hàng tối thiểu 48 giờ trước khi nhận hàng; Giá cả và phương thức thanh toán: Thanh toán trước, ngay sau khi giao hàng tùy theo từng đơn hàng. Ngày thanh toán là ngày tiền vào tài khoản. Thực hiện hợp đồng được ký kết giữa hai bên, Vinam P đã cung cấp các mặt hàng xăng dầu đúng quy cách, số lượng theo các Đơn đặt hàng của Công ty V1 và xuất hoá đơn với tổng số tiền là 903.469.400 đồng.

Đến năm 2018, giữa Vinam P và Công ty V1 đã lập biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ. Tính đến ngày 08/3/2019, Công ty V1 đã thanh toán trả cho V2 tổng số tiền là 822.000.000 đồng, còn nợ số tiền 81.469.400 đồng, thuộc đơn hàng giao ngày 16/06/2018 tại Cảng V - Huyện L - Tỉnh Đồng Nai. Mặc dù, Vinam P đã nhiều lần đôn đốc yêu cầu Công ty V1 thanh toán dứt điểm, nhưng Công ty V1 không thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết.

Quá trình giải quyết vụ án, ngày 28/8/2024, Vinam P có văn bản đề nghị Tòa án không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với vụ án: Vì lần cuối cùng Công ty V1 thanh toán cho Vinam P là vào ngày 08/3/2019, sau đó Vinam P liên tục liên hệ với bà Nguyễn Thị N1 - người đại diện theo pháp luật của Công ty V1 thông qua zalo. Các biên bản đối chiếu công nợ và nhắc nợ của Vinam Petrol với Công ty V1 và người đại diện theo pháp luật thông qua zalo thể hiện lần cuối vào ngày 30/9/2019.

Nay để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Vinam P có đơn đề nghị Tòa án yêu cầu: Buộc Công ty V1 phải có trách nhiệm thanh toán trả cho V2 theo Hợp đồng cung ứng nhiên liệu số 0503 - VP -TT/HĐCU-2018, tạm tính đến ngày 09/9/2024 tổng số tiền là 118.500.590 đồng; cụ thể: Nợ gốc là 81.469.400 đồng; nợ lãi do chậm thanh toán từ ngày 09/3/2019 đến ngày 09/9/2024 là: (81.469.400 đồng x 2011 ngày x 8,25%/365 ngày) = 37.031.190 đồng.

2. Buộc Công ty V1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ.

3. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

* Bị đơn Công ty V1 và người đại diện theo pháp luật bà Nguyễn Thị N1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn đơn Công ty V1 và người đại diện theo pháp luật bà Nguyễn Thị N1 vắng mặt không có lý do, không có quan điểm đối với yêu cầu của nguyên đơn, nên Tòa án không tiến hành được việc lấy lời khai và không tiến hành hòa giải được.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, tham gia phiên tòa đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người đại diện hợp pháp của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.

Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 203; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các điều 154,157, 429 Bộ luật dân sự; áp dụng khoản 1 Điều 24, khoản 1, 2 Điều 50, Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung; căn cứ điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  1. Buộc Công ty V1 phải có trách nhiệm thanh toán trả cho Vinam P theo hợp đồng cung ứng nhiên liệu số 0503 - VP - TT/HĐCU-2018, tạm tính đến ngày 09/9/2024 tổng số tiền là tổng số tiền là 118.500.590 đồng; cụ thể: Nợ gốc là 81.469.400 đồng; nợ lãi do chậm thanh toán từ ngày 09/3/2019 đến ngày 09/9/2024 là: (81.469.400 đồng x 2011 ngày x 8,25%/365 ngày) = 37.031.190 đồng.
  2. Buộc Công ty V1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về áp dụng pháp luật tố tụng dân sự:

[1] Nguyên đơn Vinam Petrol có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa phát sinh giữa Vinam P là Tổ chức có đăng ký kinh doanh và bị đơn là Công ty V1. Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về Hợp đồng mua bán hàng hóa. Bị đơn có trụ sở thuộc địa bàn quận H, thành phố Hải Phòng. Nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng theo quy định của khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về thời hiệu giải quyết vụ án:

[2] Theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015: Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Tại Điểm a khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Dân sự quy định: Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong trường hợp Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình với người khởi kiện. Căn cứ vào biên bản chốt nợ năm 2018, các biên bản đối chiếu công nợ và nhắc nợ của Vinam Petrol với Công ty V1 qua zalo thể hiện lần cuối ngày 30/9/2019. Như vậy, thời hiệu khởi kiện được bắt đầu lại kể từ ngày 30/9/2019. Công ty cổ phần V có đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 28/3/2022, nên vụ án vẫn còn thời hiệu theo quy định của pháp luật.

- Về sự vắng mặt của bị đơn Công ty V1:

[3] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tống đạt được các văn bản tố tụng cho bị đơn với lý do bị đơn không còn hoạt động tại địa chỉ trên. Như vậy, bị đơn thay đổi địa chỉ nơi cư trú nhưng không báo, không công bố công khai địa chỉ trụ sở với nguyên đơn và Tòa án biết để liên lạc. Do đó, bị đơn thuộc trường hợp được coi là cố tình giấu địa chỉ theo quy định tại khoản khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng vẫn tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung là phù hợp với hướng dẫn tại điểm b khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

[4] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã tống đạt hợp lệ lần thứ thứ hai Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXX-KDTM ngày 26/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/QÐST-KDTM ngày 26/7/2024; thông báo thay đổi lịch xét xử số 628/TB-TA ngày 16/8/2024, nhưng bị đơn Công ty V1 và người đại diện theo pháp luật bà Nguyễn Thị N1 vẫn vắng mặt không có lý do, không có căn cứ bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

+ Xét tính hợp pháp của hợp đồng tín dụng:

[5] Hợp đồng cung ứng nhiên liệu số 0503 - VP -TT/HĐCU-2018 được ký kết giữa Vinam P và Công ty V1 tuân thủ các quy định của pháp luật khi giao kết, nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội nên hợp đồng là hợp pháp theo quy định tại các điều 116, 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do vậy, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên và các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng.

[6] Quá trình thực hiện hợp đồng, Vinam Petrol đã cung cấp các mặt hàng xăng dầu gồm xăng RON 95/92 không chì, dầu Diesel (DO 0,05% S), dầu Mazut (F).... cho Công ty V1 theo số lượng được thể hiện bằng đơn đặt hàng của bên B; Đơn vị tính: Lít tại điều kiện thực tế (nhiệt độ, áp suất môi trường) đối với dầu Diesel hoặc kg với dầu Mazut(F0); Quy cách phẩm chất: Theo tiêu chuẩn chất lượng mà bên Vinam P cam kết và phù hợp với tiêu chuẩn Việt Nam đối với các mặt hàng xăng dầu; số lượng: Thời gian giao hàng cụ thể của mỗi đợt giao hàng sẽ được bên B báo cho bên A bằng đơn đặt hàng tối thiểu 48 giờ trước khi nhận hàng; Giá cả và phương thức thanh toán: Thanh toán trước, ngay sau khi giao hàng tùy theo từng đơn hàng. Ngày thanh toán là ngày tiền vào tài khoản. Thực hiện hợp đồng được ký kết giữa hai bên, Vinam P đã cung cấp các mặt hàng xăng dầu đúng quy cách, số lượng theo các Đơn đặt hàng của Công ty V1 và xuất hoá đơn.

[7] Về việc xác nhận công nợ: Năm 2018, giữa Vinam P và Công ty V1 đã lập biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ. Thực hiện Hợp đồng Công ty V1 đã thanh toán cho V2 số tiền là 822.000.000 đồng. Tuy nhiên,từ ngày 17/7/2018 cho đến nay Công ty V1 đã vi pham nghĩa vụ trả nợ Vinam Petrol với số tiền 81.469.400 đồng, thuộc đơn hàng giao ngày 16/06/2018 tại Cảng V - Huyện L - Tỉnh Đồng Nai. Xét các chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp phù hợp với nhau. Căn cứ Điều 117,119 của Bộ luật Dân sự; các Điều 24,50 của Luật Thương mại. Nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền nợ gốc là 81.469.400 đồng.

+ Xét yêu cầu trả tiền lãi của nguyên đơn:

[8] Nguyên đơn yêu cầu số tiền lãi từ ngày 09/3/2019 đến ngày 09/9/2024 là: (81.469.400 đồng x 2011 ngày x 8,25%/365 ngày) = 37.031.190 đồng.

[9] Căn cứ Thông báo lãi suất bình quân cho vay của các Ngân hàng tại địa phương: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N2- Chi nhánh H thông báo: Lãi suất cho vay trung dài hạn và tham chiếu là 8.9%/năm; lãi suất quá hạn = 150% lãi suất trong hạn và bằng 13.35%/năm; Ngân hàng C- Chi nhánh H thông báo: Lãi suất cho vay quá hạn là 18.75%/năm; Ngân hàng N3 - Chi nhánh H thông báo: Lãi suất cho vay đối với hoạt động kinh doanh trung, dài hạn là 8.5%/năm; lãi suất quá hạn =150% lãi suất trong hạn và bằng 12.75%/năm. Mức lãi suất nợ quá hạn cho vay trung hạn trung bình ba ngân hàng nêu trên tại thời điểm xét xử là (13.35% + 18,75% + 12.75%): 3 = 14.95%/năm.

[10] Tuy nhiên, tại điểm 2.2 Điều 3 của Hợp đồng cung ứng nhiên liệu số 0503 - VP -TT/HĐCU-2018 các bên thỏa thuận: Nếu quá thời hạn thanh toán mà Công ty V1 không thanh toán, căn cứ vào điều kiện thực tế Vinam Petrol có quyền tính tiền lãi do thanh toán chậm đối với số tiền quá hạn theo mức lãi suất 1,5%/lần lãi suất cho vay ngắn hạn của Ngân hàng N2. Căn cứ vào Công văn số 106/CVCBNHP ngày 11 tháng 7 năm 2004 của Ngân hàng N2 – Chi nhánh H cung cấp mức lãi suất ngắn hạn tại thời điểm xét xử là 5,50%. Hội đồng xét xử xét, đối chiếu bảng tính lãi, sao kê. Xét yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận đối khoản tiền lãi chậm trả của nguyên đơn, cụ thể số tiền lãi tính tạm tính từ ngày 09/3/2019 đến ngày 09/9/2024 là: (81.469.400 đồng x 2011 ngày x 8,25%/365 ngày) = 37.031.190 đồng.

[11] Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả cho V2 theo Hợp đồng cung ứng nhiên liệu số 0503 - VP -TT/HĐCU-2018 ngày 05 tháng 3 năm 2018 đã ký kết.

+ Về án phí:

[12] Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 5.925.029 đồng.

Trả lại cho Vinam P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.000.000 đồng theo biên lai số 0004634 ngày 11 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

[13] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 154,157, 429 Bộ luật dân sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 203; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 24, khoản 1 và khoản 2 Điều 50, Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Căn cứ điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần V:
    1. Buộc Công ty trách nhiệm Hữu hạn V1 phải có trách nhiệm trả cho Công ty Cổ phần V theo hợp đồng cung ứng nhiên liệu số 0503 - VP -TT/HĐCU-2018, tạm tính đến ngày 09/9/2024 với tổng số tiền là 118.500.590 (một trăm mười tám triệu, năm trăm nghìn, năm trăm chín mươi) đồng, cụ thể:
      • - Nợ gốc là 81.469.400 đồng.
      • - Nợ lãi do chậm thanh toán từ ngày 09/3/2019 đến ngày 09/9/2024 là: (81.469.400 đồng x 2011 ngày x 8,25%/365 ngày) = 37.031.190 đồng.
    2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ngày 10/9/2024 cho đến khi thi hành xong, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
  2. Về án phí: Buộc Công ty trách nhiệm Hữu hạn V1 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là (5% x 118.500.590) = 5.925.029 (năm triệu, chín trăm hai mươi lăm nghìn, không trăm hai mươi chín) đồng.

    Trả lại cho Công ty Cổ phần V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.000.000 (bốn triệu) đồng theo biên lai số 0004634 ngày 11 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

  3. Về quyền kháng cáo đối với bản án:

    Công ty Cổ phần V; Công ty trách nhiệm Hữu hạn V1 vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Hải An;
  • - Chi cục THADS quận Hải An;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bích Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/KDTM-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 06/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: VinamPetrol - Thành Trung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger