|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUÝ TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày: 28-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUÝ - TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Minh Thạo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Cao Nhơn và Tạ Ngọc Viên
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Quý.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quý tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng – Kiểm sát viên.
Vào ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2024/TLST-HS, ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 02 năm 2025 và thông báo thay đổi thời gian xét xử số 01/TB-TA ngày 20/02/2025 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn C - sinh năm: 1984
Trú tại: Thôn T, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn L và bà Mai Thị B; Gia đình có 08 anh chị em, bị cáo là con út trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Bình Thuận (có mặt tại phiên toà).
2/ Nguyễn Công M - sinh năm: 1999
Trú tại: Thôn Q, xã N, huyện P, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị H; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Bình Thuận (có mặt tại phiên toà).
3/ Đỗ Văn N1 - sinh năm: 1995
Trú tại: Thôn T, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Đỗ Văn L1 và bà Phạm Thị L2; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình; vợ Đinh Thị T và 02 con nhỏ, lớn nhất 7 tuổi và nhỏ nhất 1 tuổi; Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 07/10/2021 bị Công an huyện P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng (đã nộp phạt ngày 11/10/2021).
Về nhân thân: Năm 2012, Đỗ Văn N1 đã được “Đưa vào trường G” 24 tháng, theo Quyết định số 1638 ngày 20/12/2012 của UBND huyện P.
Bị cáo đang tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an huyện P từ ngày 05/9/2022 (có mặt tại phiên toà).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Đỗ Minh P - Sinh năm 1985
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 05/01/2022, Nguyễn Công M đi tàu từ P về P có gọi điện thoại nhờ Đỗ Văn N1 đến chở M về. Khi Đỗ Văn N1 chở Nguyễn Công M đến đoạn đường 27 tháng 4 thuộc thôn T, xã T thì M có nói với N1 là “dùng ma túy chút không”. Sau đó, M nói với N1 là biết ai có dụng cụ để mượn sử dụng. Lúc này, Đỗ Văn N1 chở Nguyễn Công M đến nhà của Nguyễn C để mượn dụng cụ sử dụng ma túy. Lúc đến nhà gặp C để hỏi mượn dụng cụ sử dụng ma túy, N1 có hỏi C là sử dụng ma túy tại nhà của C có được không thì C đồng ý và lấy dụng cụ là một ống nỏ thủy tinh, một bật lửa (hộp quẹt gas), bảy đoạn ống hút nhựa ra rồi mang vào trong phòng ngủ của C cùng với Nguyễn Công M và Đỗ Văn N1. Nguyễn Công M lấy ra một đoạn ống hút nhựa chứa ma túy đá, mục đích là để cả ba người cùng sử dụng rồi Nguyễn C cầm lấy đổ tất cả ma túy đá trong đoạn ống hút nhựa vào ống nỏ thủy tinh, dùng hộp quẹt gas đốt nóng. Sau đó, Nguyễn Công M, Đỗ Văn N1 và Nguyễn C cùng nhau sử dụng hết ma túy trong ống nỏ thủy tinh. Tiếp đó, Đỗ Văn N1 nói với Nguyễn Công M là “còn hay hết, để lại sử dụng”. Đỗ Văn N1 nói vậy là để hỏi xem Nguyễn Công M có còn ma túy nữa hay không thì M lấy từ trong ba lô ra một cái khẩu trang màu trắng, bên trong có túi ni lông chứa ma túy đá. Mục đích của M là lấy ma túy ra để sử dụng tiếp, rồi M đưa cái khẩu trang cho N1. Đỗ Văn N1 đưa túi ma túy này cho Nguyễn C và nói “Đổ vô một ít nữa”, Nguyễn C dùng một đoạn ống hút nhựa múc một phần ma túy đá trong túi ni lông ra đổ vào trong ống nỏ và dùng hộp quẹt gas đốt lên, rồi C đưa túi ni lông còn chứa một phần ma túy đá lại cho N1, N1 cất túi ni lông này vào trong túi quần đùi đang mặc. Sau đó, Nguyễn Công M, Đỗ Văn N1 và Nguyễn C cùng sử dụng ma túy, sử dụng ma túy xong thì N1 chở M đi về nhà của M.
Sau khi sử dụng xong, Đỗ Văn N1 về nhà thì gặp Đỗ Minh P đang ở nhà của N1. Đỗ Minh P hỏi N1 là đi đâu mà lâu vậy thì N1 trả lời vừa đi sử dụng ma túy về, thấy vậy P rủ N1 sử dụng ma túy nữa. N1 đồng ý và cùng Đỗ Minh P đến nhà của Nguyễn C nhằm mục đích để sử dụng ma túy. Khi đến nhà của Nguyễn C thì C lấy dụng cụ ra cho N1, P và C cùng nhau sử dụng ma túy đá còn dư ở trong ống nỏ thủy tinh mà lúc nãy N1, C và M sử dụng. Sau khi hút hết ma túy trong ống nỏ thủy tinh này thì P đi ra ngoài, Đỗ Văn N1 đưa cho C túi ni lông chứa ma túy đá còn lại mà C đã đưa lại cho N1 trước đó. Cuộc dùng 01 đoạn ống hút nhựa múc một ít ma túy đá ở túi ni lông đổ vào trong nỏ thủy tinh trên rồi dùng hộp quẹt gas đốt lên, còn túi ni lông còn ma túy thì C đưa lại cho Đỗ Văn N1 cất. Lúc này, P đi vào lại rồi N1, C và P tiếp tục sử dụng ma túy trong ống nỏ thủy tinh. Sau đó Đỗ Văn N1 chở Đỗ Minh P đi về nhà của N1. Khi đến nhà của Đỗ Văn N1 thì P điều khiển xe đi về, còn Đỗ Văn N1 đi vào nhà tắm. Sau khi tắm xong, N1 tiếp tục sử dụng ma túy một mình tại nhà. Sau đó, thì bị công an kiểm tra hành chính tại nhà N1 và đã thu giữ số ma túy còn sót lại trong nỏ thủy tinh.
Tang vật thu giữ:
- Tạm giữ các vật chứng tại nhà của Đỗ Văn N1 gồm: Một ống thủy tinh trong suốt, dài khoảng 13cm, đường kính khoảng 0,6cm, một đầu được uốn cong và cuối đoạn uốn cong là phễu hình cầu rỗng, hai đầu ống thủy tinh được dán băng keo trong, bên trong ống thủy tinh gần phễu có bám dính tinh thể màu trắng (Ký hiệu M); Một chai nhựa trong suốt hình trụ có đường kính khoảng 6,5 cm, cao khoảng 22,5 cm, bên trong chai nhựa có chứa chất lỏng. Phía trên nắp chai có gắn một ống hút bằng nhựa màu trắng dài 31 cm, đường kính khoảng 0,6 cm; Một chiếc bật lửa hiệu HOA VIỆT bằng nhựa trong suốt đã qua sử dụng.
- Tạm giữ tại nhà của Nguyễn C 08 (tám) ống thủy tinh trong suốt có kích thước từ (10 - 14,5 cm), một đầu mỗi ống được uốn cong và cuối đoạn uốn cong là một phễu hình cầu rỗng, đường kính phễu khoảng 1,8 cm, trên phễu có một lỗ tròn đường kính khoảng 0,6 cm, bên trong phễu và thành ống thủy tinh có bám dính chất tinh thể màu trắng - nâu (ký hiệu lần lượt từ M1 cho đến M8); 02 (Hai) túi ni lông trong suốt, có nhíp kéo một đầu màu đỏ; 12 (Mười hai) túi ni lông trong suốt, được hàn kín một đầu; 07 (bảy) đoạn ống hút nhựa trong suốt, được hàn kín một đầu, có chiều dài từ 2,8 cm đến 07 cm; 01 (Một) bật lửa đã bị tác động, thay đổi, phần thân nhựa.
- Tại Bản kết luận giám định số 31/KLGĐ-PC09 ngày 14/01/2022 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Các mẫu M1, M2 và M3 gửi giám định lần lượt có khối lượng 0,0507 gam; 0,0262 gam và 0,0216 gam (đều là ma túy Methamphetamine). Các mẫu M4, M5 và M6, M7, M8 gửi giám định lần lượt có khối lượng 0,0057 gam; 0,0063 gam; 0,0092 gam; 0,0087 gam và 0,0102 gam (đều không tìm thấy thành phần các chất có trong danh mục chất ma túy và tiền chất được ban hành kèm theo Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 và Nghị định số 60/2020/NĐ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ).
- Tại bản Kết luận giám định số 32/KLGĐ-PC09 ngày 14/01/2022 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,0237 gam; là Methamphetamine (Trong quá trình giám định mẫu M đã được phân tích hết).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quý giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng số: 18/CT-VKSPQ ngày 13 tháng 11 năm 2024 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn C, Nguyễn Công M, Đỗ Văn N1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Đỗ Văn N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17, 38, 58, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn C từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổ, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt với bản án số 18/2022/HS-ST ngày 14/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quý cho bị cáo.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17, 38, 58 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công M từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổ, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt với bản án số 10/2022/HS-ST ngày 26/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quý cho bị cáo.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17, 38, 58 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn N1 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổ, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt của 2 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” cho bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về vật chứng vụ án: Đã xử lý xong theo Quyết định số 16/QĐ-CCTHADS ngày 23/8/2022 và Quyết định số 10/QĐ-CCTHADS ngày 17/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Quý nên đề nghị không xem xét.
Các bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều ăn năn, hối hận về hành vi của mình, kính Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, sớm chấp hành xong về lo cho gia đình, sống tốt trong xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ giai đoạn điều tra đến truy tố, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quý, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến cũng như không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời thừa nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được cũng như quá trình tranh tụng tại phiên tòa. Do đó, đủ cơ sở xác định vào ngày 05/01/2022, bị cáo Nguyễn Công M đã có hành vi rủ và cung cấp ma túy cho bị cáo Đỗ Văn N1 và bị cáo Nguyễn C để cả ba cùng sử dụng ma túy tại nhà bị cáo C; sau đó, bị cáo Đỗ Văn N1 có hành vi cung cấp ma túy cho bị cáo Nguyễn C và Đỗ Minh P sử dụng tại nhà C. Hành vi của bị cáo Nguyễn Công M, Đỗ Văn N1 đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự, hành vi của bị cáo Nguyễn C đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 BLHS. Quá trình kiểm tra phát hiện Số ma túy bị cáo Đỗ Văn N1 dùng sử dụng với Nguyễn C và Đỗ Minh P còn sót lại trong nỏ thủy tinh và số ma túy thu giữ trong nỏ thủy tinh tại nhà N1 sau khi giám định có tổng khối lượng là 0,0744 gam Methamphetamine. Tuy nhiên, bị cáo Đỗ Văn N1 đã có 01 tiền sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa mà còn tiếp tục vi phạm. Do đó, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy 0,0744 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng của bị cáo N1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quý truy tố đối với các bị cáo về tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi: Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận biết được ma túy là chất gây nghiện và việc tổ chức sử dụng ma túy là trái pháp luật. Nhưng, do nghiện hút và muốn thỏa mãn nhu cầu của bản thân mà các bị cáo đã cố ý phạm tội. Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang lo lắng cho những người xung quanh. Trong vụ án này, bị cáo M là người khởi xướng, cung cấp ma túy và rủ bị cáo N1, C sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo C 02 lần cung cấp địa điểm tại nhà của mình, chuẩn bị dụng cụ để tổ chức sử dụng, bị cáo N1 cũng là người cung cấp ma túy để cho P và C sử dụng. Do đó, cần xử lý nghiêm các bị cáo tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội để nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để các bị cáo tu dưỡng bản thân, trở thành công dân có ích.
[5] Về vật chứng của vụ án: Đã xử lý xong nên không xem xét.
[6] Đối với ông Đỗ Minh P có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
[7] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật;
[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại của Bộ luật tố tụng hình sự;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn C, Nguyễn Công M, Đỗ Văn N1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Đỗ Văn N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ: Điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Nguyễn Cuộc 07 (bảy) năm 06 (S) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 01 (Một) năm tù tại Bản án số 18/2022/HS-ST ngày 14/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quý. Buộc bị cáo Nguyễn C phải chấp hành hình phạt chung là 8 (tám) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đến chấp hành án (ngày 22/8/2022).
- Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Nguyễn Công M 07 (B1) năm tù. Tổng hợp hình phạt 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù tại Bản án số 10/2022/HS-ST ngày 26/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quý. Buộc bị cáo Nguyễn Công M phải chấp hành hình phạt chung là 08 (T1) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 06/01/2022).
- Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Đỗ Văn N1 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 2 tội, buộc bị cáo Đỗ Văn N1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 05/9/2022).
- Căn cứ: Điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Về biện pháp tư pháp: Đã xử lý xong.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn C, Nguyễn Công M, Đỗ Văn N1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/02/2025). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể tư ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Minh Thạo |
Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUÝ - TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự sơ thẩm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 06/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUÝ - TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tổ chức sử dụng ma túy
