TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2024/HS-ST
Ngày 20-8-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mến .
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Nguyệt.
2. Ông Đinh Văn Hoát.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hồng Buôi - Thư ký Toà án nhân dân huyện S - tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S tham gia phiên toà: Ông Đinh Văn Thi - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST-HS ngày 06/8/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Huy T (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 14 tháng 5 năm 1972 tại tỉnh Quảng Ngãi. Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Thợ cơ khí. Con ông Nguyễn M (chết) và bà Nguyễn Thị Bích N (chết); vợ Phạm Thị Thanh T1, sinh năm 1980 và có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2012; tiền án: Không, tiền sự: có 02, ngày 01/7/2021 bị Hạt kiểm lâm liên huyện S - thành phố Q ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Huy T số tiền 20.000.000 đồng về hành vi “Vận chuyển lâm sản trái phép” và “mua bán lâm sản trái phép” đến ngày 14/01/2022 T chấp hành xong số tiền phạt và ngày 10/6/2022 bị Công an thành phố Q ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc đến ngày 26/7/2022 T chấp xong số tiền xử phạt; nhân thân: Ngày 29/11/2001 bị Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 02/HSST, đã chấp hành xong và ngày 08/10/2019, bị Công an huyện S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 20.000.000 đồng về hành vi mua, vận chuyển gỗ không có hồ sơ hợp pháp, ngày 15/10/2019 T chấp hành xong số tiền xử phạt.
Ngày 17/7/2024 có Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Đình D, sinh năm 1979. Có mặt.
Trú tại: Tổ dân phố D, thị trấn D, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
- Ông Đinh Văn D1, sinh năm 1979. Có mặt.
Trú tại tổ dân phố N, thị trấn D, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
- Ông Đinh Văn T2, sinh năm 1996.
Trú tại tổ dân phố N, thị trấn D, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
Người phiên dịch: Bà Đinh Thị H - Cán bộ hưu trí thị trấn D. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 16/6/2022, Nguyễn Huy T đang uống cà phê tại quán C thuộc thị trấn D, huyện S thì nghe bàn bên cạnh có một số người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đang nói chuyện mua bán gỗ nên T hỏi và đề cập mua gỗ. Sau đó, T được người đàn ông này dẫn đến khu đất trống gần “đập thủy điện cũ” thuộc tổ dân phố C, thị trấn D, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi để xem gỗ. Tại đây, T thỏa thuận mua tổng cộng 37 thanh gỗ xẻ, loại gỗ ké, nhóm VI có khối lượng 2,616m³ (quy tròn: 4,186 m³) và 02 thanh gỗ xẻ, loại gỗ xoan mộc, nhóm VI, khối lượng 0,293 m³ (quy tròn: 0,469 m³) với tổng số tiền là 18.700.000 đồng.
Sau khi mua được 39 thanh gỗ, Nguyễn Huy T thuê ông Trần Đình D vận chuyển số gỗ trên từ khu vực gần “đập thủy điện cũ” về phường T, thành phố Q; D đồng ý vận chuyển với tiền công là 2.000.000đồng. Nguyễn Huy T tiếp tục thuê Đinh Văn D1 bốc gỗ lên xe, D1 đồng ý và rủ thêm Đinh Văn T2 và Đinh Văn K đi cùng để bốc gỗ cho T.
Đến khoảng 02 giờ 30 sáng ngày 17/6/2022, Nguyễn Huy T đứng một mình gần cửa hàng Đ ở thị trấn D, huyện S gọi điện cho Trần Đình D chạy xe ô tô mang biển kiểm soát 76C-090.44 đến đón, rồi cả hai cùng đến khu vực gần “đập thủy điện cũ” để bốc gỗ. Khi đến nơi thì có Đinh Văn D1, Đinh Văn T2 và Đinh Văn K cũng đã có mặt tại đây. Lúc này, T thỏa thuận với D1 về tiền công bốc gỗ lên xe là 450.000đồng và T còn thuê riêng D1 đi cùng xe đến thành phố Q để bốc gỗ xuống xe là 150.000đồng. Sau đó, D1, T2 và K cùng bốc 39 thanh gỗ lên xe ô tô mang biển kiểm soát 76C-090.44 của Trần Đình D. Khi bốc gỗ xong, T2 và K đi về; D điều khiển xe ô tô chở 39 thanh gỗ này cùng T và D1 vận chuyển xuống thành phố Q. Khi xe ô tô 76C-090.44 do D vận chuyển 39 thanh gỗ đi đến địa phận tại Km42 Quốc lộ B thuộc huyện S, tỉnh Quảng Ngãi thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng - kinh tế - buôn lậu Công an tỉnh Q kiểm tra, phát hiện số gỗ nói trên không có hồ sơ hợp pháp nên mời về
trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Công an, Nguyễn Huy T và Trần Đình D đã khai nhận tất cả số gỗ nói trên không có hồ sơ lâm sản.
Qua xác minh về nhân thân của Nguyễn Huy T thấy rằng, ngày 01/7/2021 T bị Hạt Kiểm lâm liên huyện S- thành phố Q ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Vận chuyển lâm sản trái phép” và “mua bán lâm sản trái phép” quy định tại điểm c khoản 1 điểm a khoản 20, khoản 23 Điều 22 Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp với tổng số tiền 20.000.000đ và ngày 14/01/2022 T chấp hành xong số tiền nộp phạt này. Căn cứ khoản 1 Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính, thì thời điểm T chấp hành xong số tiền xử phạt (ngày 14/01/2022) đến ngày T thực hiện hành vi mua 39 thanh gỗ không có hồ sơ lâm sản (ngày 16/6/2022) là T đang trong thời gian được coi là bị xử phạt vi phạm hành chính. Xét thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm, Phòng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng-kinh tế-buôn lậu Công an tỉnh Q đã chuyển vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S để thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
Sau khi tiếp nhận, thụ lý vụ việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã phối hợp với các cơ quan có liên quan tiến hành xác định đồng nhất 39 thanh gỗ đã thu giữ của Nguyễn Huy T và thu 02 mẫu gỗ ký hiệu 09/CA và 21/CA (trong các thanh gỗ có ký hiệu từ 01/CA đến 12/CA và 15/CA đến 39/CA) và 01 mẫu gỗ ký hiệu 13/CA (trong các thanh gỗ ký hiệu 13/CA, 14/CA); đồng thời ban hành Quyết định trưng cầu giám định các mẫu gỗ để xác định chủng loại gỗ, nhóm, danh mục theo quy định.
Tại Kết luận giám định số 204/CNR-VP ngày 03/4/2024 của Viện nghiên cứu công nghiệp rừng- V kết luận:
Căn cứ kết quả phân tích cấu tạo thô đại và hiển vi của 03 mẫu gỗ giám định do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S trưng cầu giám định được ghi số đăng ký mẫu giám định tại Viện nghiên cứu công nghiệp rừng lần lượt là 24077-1; 24077-2 và 24077-3, kiểm tra so sánh với Cơ sở dữ liệu các loài gỗ, mẫu tham chiếu, tài liệu, kết luận:
| TT | Mẫu giám định | Tên loại gỗ | Nhóm gỗ | ||
| Ký hiệu mẫu | Số đăng ký | Tên Việt Nam | Tên khoa học | ||
| 01 | 09/CA 21/CA | 24077-1 24077-3 | Quao núi (Ké) | Stereospermumcloais | VI |
| 02 | 13/CA | 24077-2 | Lát khét (Xoan mộc) | Toona sureni | VI |
(1) Số đăng ký của Viện nghiên cứu công nghiệp rừng ghi trên mẫu giám định.
(2) Nhóm gỗ trong “Bảng phân loại tạm thời các loại gỗ sử dụng thống nhất trong cả nước” ban hành theo Quyết định số 2198-CNR ngày 26/11/1977 của Bộ L-nay là Bộ N1. Quao núi (Ké) (S) là loài cây gỗ thuộc chi Quao núi (S), họ chùm ớt (Bignoliaceae); lát khét (Xoan mộc) (Toona sureni) là loài cây gỗ thuộc chi Lát khét (T), họ X (M).
Các loài gỗ trên không có tên trong “Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm” ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; và không có tên trong “Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” ban hành kèm theo Nghị định số 64/2021/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ; do vậy đây là các loài thông thường.
Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, đồ vật tài liệu như sau:
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã xác minh làm rõ nguồn gốc tài sản, đồ vật bị tạm giữ và xác định 01 xe ô tô biển kiểm soát 76C-090.44, 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 0347494, 01 giấy phép hạng A1, C số [...] mang tên Trần Đình D, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 0347494 mang tên Nguyễn Văn T3 là của Trần Đình D sử dụng để vận chuyển gỗ cho bị can Nguyễn Huy T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã chuyển cho Công an huyện S để xử lý hành chính hành vi vận chuyển lâm sản trái phép của Trần Đình D.
Đối với 37 thanh gỗ xẻ, loại gỗ ké, nhóm VI có khối lượng 2,616m³ và 02 thanh gỗ xẻ, loại gỗ xoan mộc, nhóm VI, khối lượng 0,293 m³, xác định đây là vật chứng của vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã nhập kho vật chứng theo quy định.
Bản Cáo trạng số: 07/CT-VKS-SH ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện S truy tố bị cáo Nguyễn Huy T phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Huy T phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có cha được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất và mẹ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm m khoản 1, khoản 4 Điều 232, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T từ 24 đến 36 tháng cải tạo không giam giữ. Xử phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo từ 20.000.000đồng đến 25.000.000đồng.
Đối với Trần Đình D là người sử dụng xe ô tô biển kiểm soát 76C-090.44 vận chuyển 39 thanh gỗ cho Nguyễn Huy T; qua điều tra xác định, mặc dù D biết 39 thanh gỗ do T thuê vận chuyển không có hồ sơ hợp pháp nhưng ngày 17/6/2022 D vẫn đồng ý vận chuyển với tiền công 2.000.000 đồng từ tổ dân phố C, thị trấn D, huyện S về phường T, thành phố Q cho T. Hành vi vận chuyển gỗ không có hồ sơ hợp pháp của Trần Đình D có dấu hiệu của tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” quy định tại Điều 232 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, qua xác minh Trần Đình D không có tiền án, tiền sự về hành vi vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép; đồng thời khối lượng, chủng loại của 39 thanh gỗ nói trên không đủ định lượng và không nằm trong danh mục quý hiếm. Vì vậy hành vi của D không cấu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” quy định Điều 232 Bộ luật Hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã đề nghị Trưởng Công an huyện S ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Đình D số tiền 17.500.000 đồng, Viện kiểm sát thấy có căn cứ.
Đối với Đinh Văn D1, Đinh Văn T2 và Đinh Văn K là những người được Nguyễn Huy T thuê bốc 39 thanh gỗ lên xe ô tô của Trần Đình D để vận chuyển vào ngày 17/6/2022; tuy nhiên D1, T2 và K không biết số gỗ này không có hồ sơ hợp pháp, chỉ bốc gỗ lấy tiền công, không tham gia vào việc mua bán, vận chuyển gỗ cho T, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S không xem xét xử lý, Viện kiểm sát thấy có căn cứ.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 74 thanh gỗ xẻ, loại gỗ ké, nhóm VI có khối lượng 2,616m³ và 04 thanh gỗ xẻ, loại gỗ Xoan mộc, nhóm VI, khối lượng 0,293 m³ (được ký hiệu từ 01/CA đến 39/CA) theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/8/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện S.
Không ai có tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án; biên bản kiểm tra, kết luận giám định, biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Với mục đích mua gỗ để làm nhà cho mẹ vợ, ngày 16/6/2022, Nguyễn Huy T mua 37 thanh gỗ xẻ, loại gỗ ké, nhóm VI có khối lượng 2,616m³ (quy tròn: 4,186 m³) và 02 thanh gỗ xẻ, loại gỗ Xoan mộc, nhóm VI, khối lượng 0,293 m³ (quy tròn: 0,469 m³) không có hồ sơ hợp pháp và vận chuyển từ huyện S đến phường T, thành phố Q, khi đi đến tại K, Quốc lộ B thuộc huyện S, tỉnh Quảng Ngãi thì bị phát hiện tạm giữ. Khối lượng gỗ Nguyễn Huy T mua 2,909m³ không có hồ sơ hợp pháp và thuộc nhóm gỗ thông thường nhưng do ngày 01/7/2021 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Vận chuyển lâm sản trái phép” và “mua bán lâm sản trái phép”, nộp phạt ngày 14/01/2022, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính mà còn vi phạm nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện S truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được những hành vi khai thác, mua bán, vận chuyển gỗ, thực vật rừng,... là những hành vi vi phạm pháp luật đáng lên án. Bởi những tác hại từ những hành vi này là vô cùng to lớn, những người vi phạm chỉ vì mục đích cá nhân đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, đây cũng chính là nguyên nhân làm cho rừng bị tàn phá, ảnh hưởng đến hệ sinh thái, kéo theo chất lượng cuộc sống suy giảm. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là bị Nhà nước nghiêm cấm vì bản thân bị cáo ngày 01/7/2021 đã bị xử phạt hành chính về cùng hành vi, đã nộp phạt, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật. Do vậy cần xử phạt bị cáo nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, để răn đe giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét động cơ, mục đích của bị cáo là mua gỗ về làm nhà thờ cho mẹ vợ nên cần xem xét giảm nhẹ phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có cha được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất và có mẹ được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình, vừa nuôi mẹ vợ và vừa nhận nuôi 03 cháu nhỏ của anh vợ nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà xử phạt cải tạo không giam giữ và xử phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo cũng đủ tính răn đe nhằm giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
[6] Đối với Trần Đình D là người sử dụng xe ô tô biển kiểm soát 76C-090.44 vận chuyển 39 thanh gỗ cho Nguyễn Huy T; qua điều tra xác định, mặc dù D biết 39 thanh gỗ do T thuê vận chuyển không có hồ sơ hợp pháp nhưng ngày 17/6/2022 D vẫn đồng ý vận chuyển với tiền công 2.000.000 đồng từ tổ dân phố C, thị trấn D, huyện S về phường T, thành phố Q cho T. Hành vi vận chuyển gỗ không có hồ sơ hợp pháp của Trần Đình D có dấu hiệu của tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” quy định tại Điều 232 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, qua xác minh Trần Đình D không có tiền án, tiền sự về hành vi vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép; đồng thời khối lượng, chủng loại của 39 thanh gỗ nói trên không đủ định lượng và không nằm trong danh mục quý hiếm. Vì vậy hành vi của D không cấu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” quy định Điều 232 Bộ luật Hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã đề nghị Trưởng Công an huyện S ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Đình D số tiền 17.500.000 đồng, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ nên không giải quyết.
Đối với Đinh Văn D1, Đinh Văn T2 và Đinh Văn K là những người được Nguyễn Huy T thuê bốc 39 thanh gỗ lên xe ô tô của Trần Đình D để vận chuyển vào ngày 17/6/2022; tuy nhiên D1, T2 và K không biết số gỗ này không có hồ sơ hợp pháp, chỉ bốc gỗ lấy tiền công, không tham gia vào việc mua bán, vận chuyển gỗ cho T, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S không xem xét xử lý, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ nên không giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,78 m, chiều rộng 20cm, dày 13cm, ký hiệu: 01/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 20cm, dày 13cm, ký hiệu: 01/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,23 m, chiều rộng 17cm, dày 11cm, ký hiệu: 02/CA và ; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 17cm, dày 11cm, ký hiệu: 02/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,23 m, chiều rộng 15cm, dày 14cm, ký hiệu: 03/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 15cm, dày 14cm, ký hiệu: 03/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,23 m, chiều rộng 29cm, dày 21cm, ký hiệu: 04/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 29cm, dày 21cm, ký hiệu: 04/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,37 m, chiều rộng 19cm, dày 15cm, ký hiệu: 05/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 19cm, dày 15cm, ký hiệu: 05/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,13 m, chiều rộng 19cm, dày 15cm, ký hiệu: 06/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 19cm, dày 15cm, ký hiệu: 06/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,13 m, chiều rộng 20cm, dày 19cm, ký hiệu: 07/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 20cm, dày 19cm, ký hiệu: 07/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,43m, chiều rộng 20cm, dày 15cm, ký hiệu: 08/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 20cm, dày 15cm, ký hiệu: 08/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,2m, chiều rộng 17cm, dày 14cm, ký hiệu: 09/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 17cm, dày 14cm, ký hiệu: 09/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,93m, chiều rộng 24cm, dày 19cm, ký hiệu: 10/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7cm, chiều rộng 24cm, dày 19cm, ký hiệu: 10/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,23 m, chiều rộng 25cm, dày 16cm, ký hiệu: 11/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 25cm, dày 16cm, ký hiệu: 11/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,73 m, chiều rộng 20cm, dày 13cm, ký hiệu: 12/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 20cm, dày 13cm, ký hiệu: 12/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,1 m, chiều rộng 32cm, dày 11cm, ký hiệu: 15/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 32cm, dày 11cm, ký hiệu: 15/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,03 m, chiều rộng 29cm, dày 10cm, ký hiệu: 16/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 29cm, dày 10cm, ký hiệu: 16/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,03m, chiều rộng 31cm, dày 12cm, ký hiệu: 17/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 31cm, dày 12cm, ký hiệu: 17/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2 m, chiều rộng 38cm, dày 13cm, ký hiệu: 18/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 38cm, dày 13cm, ký hiệu: 18/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,93 m, chiều rộng 30cm, dày 15cm, ký hiệu: 19/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 30cm, dày 15cm, ký hiệu: 19/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,18 m, chiều rộng 25cm, dày 15cm, ký hiệu: 20/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 25cm, dày 15cm, ký hiệu: 20/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,83 m, chiều rộng 16cm, dày 14cm, ký hiệu: 21/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 16cm, dày 14cm, ký hiệu: 21/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,18 m, chiều rộng 40cm, dày 12cm, ký hiệu: 22/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 40cm, dày 12cm, ký hiệu: 22/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,53 m, chiều rộng 25cm, dày 23cm, ký hiệu: 23/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 25cm, dày 23cm, ký hiệu: 23/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 0,73 m, chiều rộng 44cm, dày 16cm, ký hiệu: 24/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 44cm, dày 16cm, ký hiệu: 24/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,18 m, chiều rộng 41cm, dày 13cm, ký hiệu: 25/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 41cm, dày 13cm, ký hiệu: 25/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 0,71 m, chiều rộng 40cm, dày 20cm, ký hiệu: 26/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 40cm, dày 20cm, ký hiệu: 26/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,13 m, chiều rộng 35cm, dày 16cm, ký hiệu: 27/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 35cm, dày 16cm, ký hiệu: 27/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,2 m, chiều rộng 32cm, dày 11cm, ký hiệu: 28/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 32cm, dày 11cm, ký hiệu: 28/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,18 m, chiều rộng 45cm, dày 15cm, ký hiệu: 29/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 45cm, dày 15cm, ký hiệu: 29/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,07 m, chiều rộng 44cm, dày 17cm, ký hiệu: 30/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 44cm, dày 17cm, ký hiệu: 30/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,23 m, chiều rộng 31cm, dày 17cm, ký hiệu: 31/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 31cm, dày 17cm, ký hiệu: 31/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,33 m, chiều rộng 27cm, dày 14cm, ký hiệu: 32/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 27cm, dày 14cm, ký hiệu: 32/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,49 m, chiều rộng 22cm, dày 13cm, ký hiệu: 33/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 22cm, dày 13cm, ký hiệu: 33/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,48 m, chiều rộng 25cm, dày 11cm, ký hiệu: 34/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 25cm, dày 11cm, ký hiệu: 34/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,43m, chiều rộng 31cm, dày 13cm, ký hiệu: 35/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 31cm, dày 13cm, ký hiệu: 35/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,18m, chiều rộng 30cm, dày 11cm, ký hiệu: 36/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 30cm, dày 11cm, ký hiệu: 36/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,13 m, chiều rộng 38cm, dày 14cm, ký hiệu: 37/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 38 cm, dày 14cm, ký hiệu: 37/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,17 m, chiều rộng 41cm, dày 12cm, ký hiệu: 38/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 41cm, dày 12cm, ký hiệu: 38/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,18 m, chiều rộng 31cm, dày 20cm, ký hiệu: 39/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 31cm, dày 20cm, ký hiệu: 39/CA; đều là gỗ ké, nhóm VI có khối lượng 2,616m³; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,43m, chiều rộng 36cm, dày 17cm, ký hiệu: 13/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 36cm, dày 17cm, ký hiệu: 13/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,52 m, chiều rộng 36cm, dày 15cm, ký hiệu: 14/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 36cm, dày 15cm, ký hiệu: 14/CA, đều là gỗ xoan mộc, nhóm VI, khối lượng 0,293 m³; xét thấy đây là tang vật của vụ án nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm m khoản 1, khoản 4 Điều 232; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 và Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy T phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T 30 (Ba mươi) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Trong trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
- Xử phạt bổ sung bằng tiền bị cáo Nguyễn Huy T 25.000.000đồng để sung ngân sách Nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,78 m, chiều rộng 20cm, dày 13cm, ký hiệu: 01/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 20cm, dày 13cm, ký hiệu: 01/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,23 m, chiều rộng 17cm, dày 11cm, ký hiệu: 02/CA và ; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 17cm, dày 11cm, ký hiệu: 02/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,23 m, chiều rộng 15cm, dày 14cm, ký hiệu: 03/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 15cm, dày 14cm, ký hiệu: 03/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,23 m, chiều rộng 29cm, dày 21cm, ký hiệu: 04/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 29cm, dày 21cm, ký hiệu: 04/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,37 m, chiều rộng 19cm, dày 15cm, ký hiệu: 05/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 19cm, dày 15cm, ký hiệu: 05/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,13 m, chiều rộng 19cm, dày 15cm, ký hiệu: 06/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 19cm, dày 15cm, ký hiệu: 06/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,13 m, chiều rộng 20cm, dày 19cm, ký hiệu: 07/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 20cm, dày 19cm, ký hiệu: 07/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,43m, chiều rộng 20cm, dày 15cm, ký hiệu: 08/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 20cm, dày 15cm, ký hiệu: 08/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,2m, chiều rộng 17cm, dày 14cm, ký hiệu: 09/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 17cm, dày 14cm, ký hiệu: 09/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,93m, chiều rộng 24cm, dày 19cm, ký hiệu: 10/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7cm, chiều rộng 24cm, dày 19cm, ký hiệu: 10/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,23 m, chiều rộng 25cm, dày 16cm, ký hiệu: 11/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 25cm, dày 16cm, ký hiệu: 11/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,73 m, chiều rộng 20cm, dày 13cm, ký hiệu: 12/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 20cm, dày 13cm, ký hiệu: 12/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,1 m, chiều rộng 32cm, dày 11cm, ký hiệu: 15/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 32cm, dày 11cm, ký hiệu: 15/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,03 m, chiều rộng 29cm, dày 10cm, ký hiệu: 16/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 29cm, dày 10cm, ký hiệu: 16/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,03m, chiều rộng 31cm, dày 12cm, ký hiệu: 17/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 31cm, dày 12cm, ký hiệu: 17/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2 m, chiều rộng 38cm, dày 13cm, ký hiệu: 18/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 38cm, dày 13cm, ký hiệu: 18/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,93 m, chiều rộng 30cm, dày 15cm, ký hiệu: 19/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 30cm, dày 15cm, ký hiệu: 19/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,18 m, chiều rộng 25cm, dày 15cm, ký hiệu: 20/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 25cm, dày 15cm, ký hiệu: 20/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,83 m, chiều rộng 16cm, dày 14cm, ký hiệu: 21/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 16cm, dày 14cm, ký hiệu: 21/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,18 m, chiều rộng 40cm, dày 12cm, ký hiệu: 22/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 40cm, dày 12cm, ký hiệu: 22/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,53 m, chiều rộng 25cm, dày 23cm, ký hiệu: 23/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 25cm, dày 23cm, ký hiệu: 23/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 0,73 m, chiều rộng 44cm, dày 16cm, ký hiệu: 24/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 44cm, dày 16cm, ký hiệu: 24/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,18 m, chiều rộng 41cm, dày 13cm, ký hiệu: 25/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 41cm, dày 13cm, ký hiệu: 25/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 0,71 m, chiều rộng 40cm, dày 20cm, ký hiệu: 26/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 40cm, dày 20cm, ký hiệu: 26/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,13 m, chiều rộng 35cm, dày 16cm, ký hiệu: 27/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 35cm, dày 16cm, ký hiệu: 27/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,2 m, chiều rộng 32cm, dày 11cm, ký hiệu: 28/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 32cm, dày 11cm, ký hiệu: 28/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,18 m, chiều rộng 45cm, dày 15cm, ký hiệu: 29/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 45cm, dày 15cm, ký hiệu: 29/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,07 m, chiều rộng 44cm, dày 17cm, ký hiệu: 30/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 44cm, dày 17cm, ký hiệu: 30/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,23 m, chiều rộng 31cm, dày 17cm, ký hiệu: 31/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 31cm, dày 17cm, ký hiệu: 31/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,33 m, chiều rộng 27cm, dày 14cm, ký hiệu: 32/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 27cm, dày 14cm, ký hiệu: 32/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,49 m, chiều rộng 22cm, dày 13cm, ký hiệu: 33/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 22cm, dày 13cm, ký hiệu: 33/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,48 m, chiều rộng 25cm, dày 11cm, ký hiệu: 34/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 25cm, dày 11cm, ký hiệu: 34/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,43m, chiều rộng 31cm, dày 13cm, ký hiệu: 35/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 31cm, dày 13cm, ký hiệu: 35/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,18m, chiều rộng 30cm, dày 11cm, ký hiệu: 36/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 30cm, dày 11cm, ký hiệu: 36/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,13 m, chiều rộng 38cm, dày 14cm, ký hiệu: 37/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 38 cm, dày 14cm, ký hiệu: 37/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,17 m, chiều rộng 41cm, dày 12cm, ký hiệu: 38/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 41cm, dày 12cm, ký hiệu: 38/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,18 m, chiều rộng 31cm, dày 20cm, ký hiệu: 39/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 31cm, dày 20cm, ký hiệu: 39/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,43m, chiều rộng 36cm, dày 17cm, ký hiệu: 13/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 36cm, dày 17cm, ký hiệu: 13/CA; 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 2,52 m, chiều rộng 36cm, dày 15cm, ký hiệu: 14/CA và 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 7 cm, chiều rộng 36cm, dày 15cm, ký hiệu: 14/CA (Phản ảnh tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/8/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện S).
3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Huy T phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết tại Ủy ban nhân dân N2.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Mến |
Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH QUẢNG NGÃI về hình sự: vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Số bản án: 06/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Huy T phạm tội "Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”
