Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HNGĐ-ST

Ngày 20/6/2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về

nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Hồng Kỳ và bà Lê Thị Chinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Ngọc Khương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận: Bà Huỳnh Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D – sinh năm 1992 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố D, phường K, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Q – sinh năm 1991 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: 246 S 112th S, S, WA I, Hoa Kỳ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị D trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn Q chung sống từ năm 2015, đến năm 2016 ông Q xuất cảnh đi Hoa Kỳ. Sau đó năm 2018 cả hai tiến đến hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 03/5/2018. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không còn tình cảm vợ chồng, cả hai cũng đã thống nhất chấm dứt cuộc sống hôn nhân. Nay bà đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với ông Q.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Thiên B, sinh ngày 08/12/2015. Cháu B hiện sống cùng bà, bà xin được nuôi con và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung.

Hiện nay bà làm công việc bán hàng qua mạng, thu nhập từ 10 – 15 triệu đồng/tháng, đủ khả năng kinh tế để chăm sóc và nuôi dưỡng con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tại bản trình bày được hợp pháp hóa lãnh sự bị đơn ông Nguyễn Văn Q trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị D có quan hệ tình cảm với nhau từ năm 2015, cuối năm 2015, bà D sinh một bé trai, tên Nguyễn Thiên B là con chung giữa ông và bà D. Sau khi bà D sinh con, ông và bà D chung sống với nhau một thời gian ngắn thì ông sang Hoa Kỳ sống cùng cha mẹ. Giữa năm 2018, ông quay về Việt Nam và đăng ký kết hôn với bà D cũng như làm thủ tục để nhận con. Ngày 03/5/2018, ông và bà D đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện N và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Sau đó, vợ chồng cũng thực hiện thủ tục nhận cha – con và ghi nhận thông tin ông là người cha trên mặt sau Giấy khai sinh của cháu Nguyễn Thiên B. Sau khi đăng ký kết hôn và thực hiện thủ tục nhận cha – con, ông quay trở về Hoa Kỳ một mình để sắp xếp chỗ ở và chuẩn bị hồ sơ bảo lãnh vợ con sang đoàn tụ.

Đến khoảng giữa năm 2019, do hoàn cảnh sống xa nhau thời gian dài, vợ chồng dần phát sinh mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, tình cảm dần phai nhạt. Nay bà D xin ly hôn với ông, ông đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Thiên B, sinh ngày 08/12/2015. Cháu B hiện sống cùng bà D, ông đồng ý giao con cho bà D nuôi dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Ông yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, đối với các văn bản tố tụng, bản án đề nghị Tòa án giao cho bà Nguyễn Thị D nhận thay ông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận phát biểu quan điểm:

Về việc chấp hành pháp luật: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D, chấp nhận cho bà Nguyễn Thị D và ông Nguyễn Văn Q được ly hôn.

Về con chung: giao con chung cho bà D được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vụ án có quan hệ tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Ông Nguyễn Văn Q cư trú, sinh sống tại Hoa Kỳ nên thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận theo khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 469 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Tòa án đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp và Cơ quan có thẩm quyền của H chúng quốc Hoa Kỳ đã thực hiện ủy thác tư pháp bằng phương thức chuyển trực tiếp đến bị đơn ông Nguyễn Văn Q và ông Q có gửi cho Tòa án Đơn trình bày ý kiến được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định nên được dùng làm căn cứ giải quyết vụ án.

Sự tham gia của đương sự: Bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Văn Q đều có yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 5 Điều 477 Bộ luật tố

tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Quá trình thu thập chứng cứ, nhận thấy:

Bà Nguyễn Thị D tiến đến hôn nhân với ông Nguyễn Văn Q hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 03/5/2018 theo chứng nhận kết hôn quyển số 06/2018 của Ủy ban nhân dân huyện N nên là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2019 thì đã không còn liên lạc với nhau. Mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng và hạnh phúc; để đạt được điều này thì vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Tuy nhiên, giữa ông Q và bà D mâu thuẫn trong hôn nhân do tính tình không hợp, khoảng cách địa lý quá xa và đã không còn liên lạc với nhau qua bất kỳ phương tiện gì đã nhiều năm, cả hai bỏ mặc hôn nhân và không duy trì mối quan hệ vợ chồng. Xét tình trạng hôn nhân giữa bà D và ông Q đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy yêu cầu ly hôn của bà D là có căn cứ, phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Bà D và ông Q có 01 con chung tên Nguyễn Thiên B – sinh ngày 08/12/2015. Từ khi cháu B được sinh ra cho đến nay, bà D luôn là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu B; Ông Nguyễn Văn Q cũng đồng ý giao con cho bà D nuôi dưỡng. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao con cho bà Nguyễn Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

[3] Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị D phải chịu toàn bộ chi phí ủy thác tư pháp được khấu trừ vào tiền tạm ứng chi phí tố tụng. Bà Nguyễn Thị D đã nộp đủ tiền ủy thác tư pháp.

[4] Về án phí: Bà Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 153, Điều 273, khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Các điều 51, 56, 57, 81, 84, 85, 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D đối với bị đơn ông Nguyễn Văn Q.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị D được ly hôn ông Nguyễn Văn Q.
  2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 01con chung tên: Nguyễn Thiên B – sinh ngày 08/12/2015. Ông Nguyễn Văn Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại

  1. Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị D phải chịu toàn bộ chi phí ủy thác tư pháp được khấu trừ vào tiền tạm ứng chi phí tố tụng. Bà Nguyễn Thị D đã nộp đủ tiền ủy thác tư pháp.
  2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000018 ngày 07/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Thuận. Bà Nguyễn Thị D đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Quyền kháng cáo của nguyên đơn trong thời hạn 15 ngày, bị đơn quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - Cục THADS tỉnh Ninh Thuận;
  • - Ủy ban nhân dân huyện Ninh Hải (để biết);
  • - Lưu hồ sơ, án văn, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Anh Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 06/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyen Thi D - Nguyen Van Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger