|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 06/2024/DS-ST Ngày: 19 - 7 - 2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Quản Giang Thao
2. Ông: Trương Văn Bắc
- Thư ký phiên tòa bà: Lữ Thị Hải Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa: Không
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Văn L – Sinh năm: 1989 và chị Trần Thị L1 – Sinh năm: 1989
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lê Thị S – Sinh năm: 1957
- Bị đơn: Chị Lê Thị H - Sinh năm: 1979
Người làm chứng: Bà Lê Thị S – sinh năm 1957.
Đều có địa chỉ: Thôn T, xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa có mặt bà S và chị L1, vắng mặt chị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị S đều trình bày:
Gia đình anh và chị H có mối quan hệ người cùng thôn. Ngày 20/5/2015 bà H có vay gia đình anh số tiền 50.000.000 đồng, vay không lãi suất và thời hạn trả nợ vào ngày 20/12/2016. Chị H tự viết giấy vay nợ và tự ký nhận. Trong giấy vay tiền, chị H
đã ghi nhầm ngày vay là ngày 20/5/2016 nhưng sau đó đã đính chính tại dòng ký tên ngày vay là 20/5/2015. Đến ngày 20/8/2020, chị H có viết giấy nhận vay tiền của mẹ tôi là bà Lê Thị S số tiền 50 triệu đồng và hẹn trả mỗi tháng là 500.000 đồng thực chất đây là số tiền vay vợ chồng tôi. Việc chị H nại ra tôi và mẹ tôi có mua vật liệu xây dựng nhà chị H vào năm 2019 và chưa trả tiền cho chị là không đúng. Vào năm 2016, gia đình tôi có mua vật liệu của chị H hết số tiền 10 triệu đồng và đã thanh toán xong với chị H. Đến ngày 20/8/2020, chi H viết giấy nhận nợ còn nợ 50 triệu đồng và cam kết trả mỗi tháng 500.000 đồng. Kể từ ngày viết giấy đến năm 2021 thì có trả được 06 triệu đồng sau đó không trả nữa. Nay anh đề nghị Tòa án buộc chị H phải trả cho gia đình anh số tiền còn nợ là 44.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi suất.
Tại bản tự khai chị Lê Thị H trình bày quan điểm như sau:
Tại ban tự khai ngày 06/12/2023, chị H khai vào ngày 20/5/2015 bà có vay của anh Lê Văn L và chị Lê Thị L2 số tiền 50.000.000 đồng. Chị đã trả 6.000.000 đồng và tiền vật liệu tính thành tiền là 13.800.000 đồng, tổng số tiền đã trả là 19.800.000 đồng, số tiền còn nợ là 30.200.000 đồng. Số tiền còn lại chị sẽ trả hàng tháng cho vợ chồng anh L, chị L2 số tiền 300.000 đồng/tháng.
Tại bản tự khai ngày 14/12/2023, chị H khai vào ngày 20/5/2016, chị có vay của bà S số tiền 50.000.000 đồng. Sau đó bà S bảo tôi viết lại giấy vay tiền chuyển sang tên anh Lê Văn L là con trai bà S. Sau một thời gian, anh L có sang đặt gạch cớm và chở vật liệu xuống móng nhà, anh L chưa thanh toán tiền mua vật liệu cho chị. Đồng thời mẹ anh L có mua cớm và xi để xây tường rào cũng chưa thanh toán cho chị từ năm 2019 cho đến nay. Việc anh L viết đơn khởi kiện yêu cầu chị trả số tiền 50.000.000 đồng là không đúng, chị yêu cầu bà S và anh L phải trừ số tiền mua vật liệu cụ thể là bao nhiêu từ năm 2019 cho chị và trừ số tiền chị đã trả hàng tháng cho anh L.
Tại bản tự khai của bà Lê Thị S thể hiện quan điểm như sau:
Gia đình bà và chị H có mối quan hệ làng xóm với nhau. Vào năm 2016, chị H có vay tiền của vợ chồng con trai bà số tiền 50 triệu sau đó không trả. Đến ngày 20/8/2020, do con trai và con dâu bận nên bà với bà H1, bà K và bà L3 đến nhà chị H đòi tiền thì chị H có viết giấy cam kết trả nợ vơi nội dung thừa nhận nợ bà số tiền 50 triệu và hẹn mỗi tháng trả 500.000 đồng. Thực chất số tiền này chị H vay của vợ chồng con trai bà, sau đó chị H có trả được 06 triệu đồng, số tiền còn lại là 44 triệu đồng. Việc chị H bảo mẹ con bà mua vật liệu chưa thanh toán là không đúng. Bà không mua vật liệu của gia đình chị H mà vợ chồng con trai có mua gạch cớm nhưng đã thanh toán xong từ năm 2016.
Tại phiên tòa Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn vắng mặt không có lý do tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Cả anh L và chị H đều thống nhất thời gian chị H vay tiền anh L, chị L2 vào ngày 20/5/2015, hẹn trả vào ngày 20/12/2016. Tuy nhiên đến ngày trả chị H không trả nợ, đến ngày 20/8/2020, viết giấy nhận nợ lại và hẹn mỗi tháng trả 500.000 đồng cho đến khi hết nợ. Do chị H không thực hiện đúng thỏa thuận trả nợ nên anh L, chị L2 làm đơn khởi kiện. Xét thấy do chị H vi phạm thỏa thuận nên chỉ xác định ngày quyền và lợi ích hợp pháp của anh L, chị L2 bị xâm phạm kể từ thời điểm anh chị yêu cầu chị H trả nợ vào thời điểm khởi kiện nên vụ án chưa hết thời hiệu khởi kiện. vì vậy TAND Thị xã Nghi Sơn thụ lý vụ án về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn thị xã N, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án không tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ, đối tượng khởi kiện trong vụ án không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 21 BL TTDS vì vậy vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa.
Trong gia đoạn hòa giải tại Trung tâm hòa giải đối thoại TAND Thị xã Nghi Sơn, chị Lê Thị H có đến làm việc, cung cấp bản tự khai và tham gia hòa giải tuy nhiên hai bên đương sự không thống nhất được phương án trả nợ vì vậy người khởi kiện đề nghị TAND Thị xã Nghi Sơn thụ lý giải quyết theo thủ tục tố tụng. Kể từ thời điểm thụ lý và giải quyết vụ án mặc dù được tổng đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng nhưng chị Lê Thị H không đến làm việc cũng như tham gia phiên tòa. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[2] Về yêu cầu của nguyên đơn:
Theo trình bày của anh Lê Văn L, bà Lê Thị S và chị Lê Thị H đều thừa nhận chị H có vay gia đình anh L, chị L2 số tiền 50.000.000 đồng vào ngày 20/5/2015 và chị H đã trả số tiền 6.000.000 đồng. Anh L yêu cầu bà H phải trả số tiền nợ còn lại là 44.000.000 đồng cho gia đình anh. Đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của BLTTDS vì vậy HĐXX khẳng định việc chị Lê Thị H có vay của anh L và chị L2 số tiền 50 triệu đồng và đã trả được 06 triệu đồng là đúng.
Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án chị H không đồng ý việc anh L, chị L2 yêu cầu chị trả cho anh số tiền 44 triệu vì vào năm 2019, gia đình anh L và bà S là mẹ anh L có mua vật liệu xây dựng của nhà chị với số tiền là 13.800.000 đồng chưa thanh toán và chị đã trả được 06 triệu đồng vì vậy chị yêu cầu gia đình nhà anh L, bà S phải trừ số tiền 19.800.000 đồng cho chị. Chị còn nợ 30.200.000 đồng và mỗi tháng chị trả 300.000 đông. Đến ngày 14/12/2023, chị lại khai hiện gia đình bà S và anh L còn nợ tiền vật liệu nên phải tính toán xem nợ tiền vật liệu cụ thể là bao nhiêu và tiền chị trả số tiền vay là bao nhiêu.
Phần trình bày của anh L và S thể hiện việc gia đình anh có mua vật liệu xây dựng của chị H là đúng tuy nhiên mua vào năm 2016 hết 10 triệu và đã thanh toán cho chị H đầy đủ. Đến thời điểm hiện nay không còn nợ chị H tiền vật liệu xây dựng.
Xét lời trình bày của các đương sự HĐXX thấy: Tất cả các đương sự đều thừa nhận có sự việc mua bán vật liệu xây dựng tuy nhiên chị H cho rằng gia đình anh L chưa thanh toán tiền cho chị và mua vào năm 2019 còn anh L thì khẳng định đã thanh toán xong số tiền mua vật liệu xây dựng vào năm 2016. Việc chị H cho rằng chưa thanh toán tiền cho chị nhưng trong giấy cam kết trả nợ ngày 20/8/2020, chị H vẫn thừa nhận còn nợ gia đình anh L số tiền 50 triệu đồng và sẽ trả mỗi tháng 500.000 đồng, sau đó chị H đã trả được 06 triệu đồng. Ngoài lời khai trên chị H cũng không cung cấp được cho Tòa án tài liệu chứng cứ nào chứng minh hiện gia đình anh L còn nợ chị tiền vật liệu xây dựng như lời trình bày của chị.
Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự: Tại khoản 5 Điều 70 về Quyền và nghĩa vụ của đương sự như sau “Cung cấp tài liệu, chứng cứ; chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”; tại khoản 1, khoản 4 Điều 91 về Nghĩa vụ chứng minh như sau “Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp” và “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hơn nữa lời khai nại của chị H là không có căn cứ vì phần trình bày của chị bất nhất, ngày 06/12/2023, chị xác định tiền mua vật liệu xây dựng là 13.800.000 đồng, ngày 14/12/2023, chị khai chưa xác định được số tiền gia đình anh L mua vật liệu còn nợ lại bao nhiêu; thứ hai chị khai năm 2019 gia đình anh L mua vật liệu chưa trả tiền nhưng đến ngày 20/8/2020 chị vẫn viết giấy nhận nợ 50 triệu đồng . Xét thấy lời khai nại của chị H tại các bản tự khai có sự mâu thuẫn, không chính xác, trong quá trình giải quyết vụ án chị không đưa ra được các chứng cứ chứng minh cho lời khai nại của
mình và cũng không đến làm việc theo yêu cầu của Tòa án nên không có cơ sở để HĐXX chấp nhận lời khai nại của chị.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[2.2] Về số tiền lãi: Nguyên đơn không yêu cầu chị H phải trả số tiền lãi nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Trả lại số tiền tạm ứng án phí cho Nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 463, khoản 1 Điều 466, Điều 357 của Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án và điểm d tiểu mục 1.3 mục 1 phần 2 Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn: Buộc chị Lê Thị H phải trả nợ cho anh Lê Văn L và chị Trần Thị L1 số tiền 44.000.000đ (Bốn mươi bốn triệu đồng).
2. Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, chị H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy đinh khác.
3. Về án phí:
- Trả lại số tiền tạm ứng án phí 1.250.000đ cho anh Lê Văn L và chị Trần Thị L1 theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007128 ngày 05/4/2024 của Chi cục THADS Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- Chị Lê Thị H phải nộp 2.200.000 đồng tiền án phí dân sự có giá ngạch.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai có mặt chị L1, bà S, vắng mặt chị H. Những người có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, những người vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Cúc |
Bản án số 06/2024/DS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 06/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Theo trình bày của anh Lê Văn L, bà Lê Thị S và chị Lê Thị H đều thừa nhận chị H có vay gia đình anh L, chị L2 số tiền 50.000.000 đồng vào ngày 20/5/2015 và chị H đã trả số tiền 6.000.000 đồng. Anh L yêu cầu bà H phải trả số tiền nợ còn lại là 44.000.000 đồng cho gia đình anh.
