|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 06/2025/DS-PT Ngày 19 - 02 - 2025 V/v “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền
Các Thẩm phán: Ông Bùi Minh Thư, ông Hồ Đức Quang
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Bảo Hằng - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 34/2024/TLPT-DS ngày 19/11/2024 về tranh chấp “yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 22/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh bị kháng cáo.Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXX-PT ngày 16/12/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Thanh X, sinh năm: 1966 và bà Nguyễn Thị L; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Tổ dân phố N, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, (có mặt). Người đại diện theo ủy quyền: ông Ngô Hà G, sinh năm 1983; nghề nghiệp; Nhân viên; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. (theo Giấy ủy quyền ngày 10/01/2024, số chứng thực 01/2024-SCT/CK,ĐC) (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm: 1967. nghề nghiệp: Lao động tự do. Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974; nghề nghiệp: Lao động tự do. Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
+ Bà Lê Thị K, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn Q, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; (chị gái của ông Lê Văn H) (Có đề nghị giải quyết vắng mặt).
1
- Người làm chứng:
+ Ông Lê Văn B, sinh năm 1964; địa chỉ: phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; (anh trai của ông Lê Văn H) (vắng mặt).
+ Ông Trần Xuân H1, sinh năm 1968; nghề nghiệp: Công chức; địa chỉ: phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Văn H
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án dân sự sơ thẩm số 22/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh và các tài liệu có tại hồ sơ, vụ án có nội dung như sau:
* Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn trình bày: Ông Lê Văn H, bà Lê Thị K, ông Lê Văn B là anh chị em ruột. Cả ba người có mẹ đẻ là bà Lê Thị B1, bà Lê Thị B1 có thửa đất tại tờ bản đồ số 1/Khu Tái định cư K; bà Lê Thị B1 tặng cho các con ông Lê Văn H diện tích 6x25m; Bà Lê Thị K diện tích 5x25m; Ông Lê Văn B diện tích 6x25m. Năm 2011, các thửa đất nói trên được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cuối năm 2013, ông Lê Văn H và bà Lê Thị K chuyển nhượng 02 thửa đất nói trên cho vợ chồng ông Trần Thanh X với số tiền là 286.000.000 (hai trăm tám mươi sáu triệu) đồng, trong đó vợ chồng ông Trần Thanh X mua thửa đất của ông H là 156.000.000 đồng, của bà K là 130.000.000 đồng. Ông Trần Thanh X đã trả đủ tiền 286.000.000 đồng cho ông Lê Văn H và bà Lê Thị K, ông H là người đại diện nhận tiền. Sau khi nhận đủ tiền, ông H bàn giao 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H, bà K cho vợ chồng ông Trần Thanh X quản lý.
Do chủ quan, tin tưởng nên mặc dù thanh toán hết tiền chuyển nhượng, vợ chồng ông Trần Thanh X và ông H, bà K chưa ký Hợp đồng chuyển nhượng có công chứng để làm thủ tục đăng ký biến động quyền sử dụng đất. Tháng 7/2021, ông Trần Thanh X yêu cầu bà K ký Hợp đồng chuyển nhượng để chuyển quyền sử dụng đất đã bán cho ông X, nhưng bà K từ chối, với lý do là ông H mới đưa cho bà K 60.000.000 đồng, còn thiếu 70.000.000 đồng. Bà K yêu cầu ông X phải trả thêm 70.000.000 đồng để đủ 130.000.000 đồng như thỏa thuận mua bán trước đó. Để bà K ký Hợp đồng chuyển nhượng, ông X đã trả cho bà K 70.000.000 đồng, bà K sau đó bớt cho ông X 5.000.000 đồng và đã ký Hợp đồng chuyển nhượng cho vợ chồng ông X.
Còn ông H không chịu ký Hợp đồng chuyển nhượng cho vợ chồng ông X. Ông H viện lý do sai sự thật để không ký Hợp đồng chuyển nhượng cho vợ chồng ông X. Ông H cho rằng trước đó có người giả mạo chữ ký của ông để làm hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất của ông. Có người lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) của ông H để thế chấp vay vốn ngân hàng mà bản thân ông và gia đình không hề hay biết. Ông H còn viết Đơn tố cáo với nội dung sai sự thật gửi nhiều nơi, cung cấp thông tin sai sự thật cho phóng viên tạp chí Người cao tuổi viết bài với tiêu đề: Hà Tĩnh: Người
2
dân bị giả mạo chữ ký vay vốn ngân hàng; trong đó ông H khẳng định mình bị giả mạo chữ ký để được cấp bìa đỏ, bị giả mạo chữ ký để thế chấp quyền sử dụng đất vay vốn ngân hàng, và cho rằng Chủ tịch UBND phường K có khuất tất trong giải quyết đơn thư của ông H. Sự việc sau đó được Công an thị xã K vào cuộc xác minh, điều tra và kết luận những nội dung ông H tố cáo như trên là sai sự thật. Do đó Công an thị xã K đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi thông tin sai sự thật của ông H. Đồng thời Thanh tra Sở T2 cũng ra Quyết định xử phạt ông Phan Mạnh C - tác giả bài báo “Hà Tĩnh: Người dân bị giả mạo chữ ký vay vốn ngân hàng” do hành vi phản ánh nội dung sai sự thật, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, làm mất uy tín của chính quyền và một số cơ quan trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
Việc ông H và bà K bán đất cho vợ chồng ông X đã được ông H nhiều lần thừa nhận tại các buổi làm việc tại UBND phường K, có nhiều người chứng kiến và có biên bản làm việc ghi nhận. Ngoài ra bà K, ông B là anh em ruột của ông H cũng xác nhận sự việc bằng văn bản. Ông H cố tình tạo ra những thông tin sai sự thật nói trên nhằm để trốn tránh nghĩa vụ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông X, chiếm đoạt tiền của vợ chồng ông X đã thanh toán cho ông H. Ông X, bà L khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông Lê Văn H Chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất đã nhận tiền chuyển nhượng cho vợ chồng ông X; Trả lại cho vợ chồng ông X 65.000.000 đồng, là tiền ông H chiếm dụng của bà K mà vợ chồng ông X đã phải trả thay. Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn thay đổi, bổ sung, rút một phần yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn H và ông Trần Thanh X bà Nguyễn Thị L đã hoàn thành; Rút yêu cầu, buộc ông Lê Văn H phải trả cho vợ chồng ông Trần Thanh X bà Nguyễn Thị L 65.000.000đ, là số tiền ông H chiếm dụng của bà K mà vợ chồng ông X đã phải trả thay.
* Bị đơn ông Lê Văn H trình bày: Ông Lê Văn H có 01 mảnh đất do mẹ đẻ cho nhưng ông H chưa làm một giấy tờ gì về mảnh đất đó vì chưa họp gia đình, chưa có giấy di chúc nên ông H chưa bán và ủy quyền mảnh đất này cho ông Trần Thanh X và bà Nguyễn Thị L, nhưng nay ông X khởi kiện ông H là không có căn cứ, không có bằng chứng. Đối với người làm chứng bà Lê Thị K và ông Lê Văn B là anh em cùng mẹ cùng cha với ông H, nhưng làm chứng không đúng sự thật, không bằng chứng, hai người làm ông H phải đau khổ, oan sai phải bị cưỡng chế của Công an thị xã K phạt oan 2.500.000 đồng bằng tài khoản của công ty nơi ông H làm việc vào tháng 6/2022 là không đúng. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ông cũng cho rằng bà Nguyễn Thị T là vợ ông không liên quan đế vụ việc nên việc nguyên đơn đề nghị đưa vào với tư cách là bị đơn là không có căn cứ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị K trình bày: Bà K có 1 mảnh đất tại tái định cư K1 thuộc TDP Q, phường K, tỉnh Hà Tĩnh là 5m x 25 m do mẹ đẻ là bà Lê Thị B1 sang nhượng cho bà. Sau khi ông Lê Văn H là em trai bà K đã bán mảnh đất của bà K và mảnh đất của ông H cho vợ chồng ông Trần Thanh X tổng số tiền bán được là 280.000.000 đồng, P của bà K là 5m
3
x 25 m = 125m², khi bán nói giá 130.000.000 đồng, nhưng khi ông H đưa tiền thì chỉ có 60.000.000 đồng, tháng 7/2021 ông X có vào nhờ bà ký hồ sơ để chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng bà K không đồng ý, bà K yêu cầu ông X phải thanh toán đủ 70.000.000 đồng thì bà mới ký. Ngày 08/7/2021 ông X đã đưa đủ số tiền này cho bà K và bà K bớt 5.000.000 đồng, bà chỉ lấy 65.000.000 đồng và đã ký hồ sơ cho ông X. Ông H đã chiếm đoạt 70.000.000 đồng của bà K.Việc bán đất giữa ông H và ông X thì bà không trực tiếp tham gia chứng kiến nhưng bà được ông H thông báo và biết về việc này.
* Người làm chứng ông Lê Văn B trình bày: Mẹ ông B là bà Lê Thị B1 đã cho ba anh em đất, ông Lê Văn H được cho diện tích 6x25m; Bà Lê Thị K được cho diện tích 5x25m; Ông Lê Văn B được cho diện tích 6x25m và đã làm sổ đỏ cho cả 3 ở Ủy ban nhân dân xã K. Giấy tờ hồ sơ của ông Lê Văn H do bà Lê Thị B1 ký, hồ sơ của ông Lê Văn B thì do bà Lê Thị B1 vân tay. Trong lúc mua bán đất giữa ông H và ông X ông không chứng kiến nhưng vẫn biết về này. Ông X mua 02 mảnh đất 11mx 25 m của bà Lê Thị K và ông Lê Văn H là 280.000.000 đồng.
* Tại công văn số 750 của công an thị xã K ngày 26/8/2024 có nội dung: Ông Lê Văn H (1967), trú tại số nhà C Ngõ A, đường N, tổ dân phố N, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh gửi đơn qua nguồn bưu điện đến Công an thị xã K với nội dung: “Khoảng tháng 04/2021 ông H biết được mẹ đẻ là bà Lê Thị B1 (đã chết) có làm hồ sơ giấy tờ chuyển nhượng cho ông H thửa đất số 210, tờ bản đồ số 01/Tái định cư K, số vào sổ cấp GCN CH00657 ngày 09/3/2011, diện tích 150 mét vuông tại khu vực tái định cư phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Ông H không biết và không giữ GCN quyền sử dụng đất mà đến tháng 4/2021 phát hiện mảnh đất đó đã bị người khác làm giả hồ sơ, giấy tờ và giả mạo chữ ký của ông H để thế chấp vay vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 – chi nhánh thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh”. Sau khi tiếp nhận đơn, Công an thị xã K đã tiến hành các hoạt động điều tra, xác minh làm rõ. Kết quả điều tra cụ thể như sau:
Công an thị xã K đã làm việc với đại diện ngân hàng thương mại cổ phần C1 – thuộc chi nhánh thị xã K; Văn phòng đăng kí đất đai – Chi nhánh thị xã K để tiến hành thu thập các loại giấy tờ, tài liệu có liên quan đến hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (thửa đất số 210, tờ bản đồ số 01, tái định cư Kỳ Phương, số vào sổ cấp GCN: CH00657 ngày 09/3/2011, diện tích 150 mét vuông tại khu vực tái định cư phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh) đồng thời thu thập bản tự khai, mẫu chữ ký của Lê Văn H và thu thập mẫu dấu vân tay của bà Nguyễn Thị T (1974) trú tại tổ dân phố N, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (là vợ ông H) để tiến hành niêm phong theo quy định phục vụ công tác giám định. Căn cứ Bản kết luận giám định số: 47/PC09-TL ngày 01 tháng 10 năm 2021 của Phòng K2 Công an tỉnh H đối với giám định tài liệu, kết luận: Chữ ký, chữ viết đứng tên ông Lê Văn H dưới mục “BÊN THẾ CHẤP” trên các mẫu cần giám định (Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) so với chữ ký, chữ viết của ông Lê Văn H trên các mẫu so sánh là do cùng một người ký và viết ra; Bản kết luận giám định
4
số: 31/PC09-ĐV ngày 30 tháng 09 năm 2021 của Phòng K2 Công an tỉnh H đối với giám định đường vân của bà Nguyễn Thị T, kết luận: D vân tay điểm chỉ dưới mục “BÊN THẾ CHẤP” trên các mẫu cần giám định trùng với dấu vân in tại ô “NGÓN CÁI PHẢI” trên các mẫu so sánh thu thập của bà Nguyễn Thị Thạch .
Quá trình làm việc tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 – Chi nhánh tỉnh H, kết quả xác minh chi tiết về khoản vay như sau: Theo hồ sơ số 454, quyển 01, ngày 23/05/2011 thế chấp bằng quyền sử dụng đất của ông H, Thửa đất số 210, tờ bản đồ số 01/Tái định cư K, số vào sổ cấp GCN: CH00657 ngày 09/3/2011 thì ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị T vay số tiền 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng); Lãi suất: 21%/năm; Ông H lĩnh tiền mặt ngày 26/05/2011; Đến ngày 08/8/2011 thì tất toán trả đủ số nợ gốc và trả lãi số tiền 2.590.000₫ (Hai triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng). Công an thị xã K đã làm việc với ông Lê Văn H để thông báo kết luận giám định và kết quả xác minh đơn nhưng ông H không đồng ý với nội dung bản kết luận.
Ngày 09/3/2022, Công an thị xã K tiếp nhận nguồn tin từ Văn phòng UBND thị xã K đơn kiến nghị khẩn cấp của ông Lê Văn H với nội dung: Ông H được mẹ là bà Lê Thị B1 cho thửa đất rộng 6 mét, dài 25 mét trong thửa đất số 210, lộ số 14, khu TĐC, phường K là phần đất bà B1 có diện tích 425 m2. Ông H chưa đi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đã có cơ quan hoặc cá nhân nào đã tự ý làm hồ sơ giấy tờ và giả mạo chữ ký ông H để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, ông H khai thác nhận được bìa đỏ phô tô mang tên ông H, thửa đất 210, tờ bản đồ 01, số BĐ 719353 cấp ngày 09/3/2011, số vào sổ cấp GCN: CH00657 được chủ tịch Phạm Khắc D1 ký tên, đóng dấu nhưng hiện nay quyển bìa đỏ gốc đó nằm ở đâu thì ông H không biết.
Công an thị xã K đã tiến hành làm việc với ông Trần Xuân H1 (1963) là cán bộ địa chính xã K (Công tác từ năm 1992 đến 2018) và những người có liên quan xác định vào ngày 10/12/2010 ông Lê Văn H cùng với bà Lê Thị B1 (mẹ H) và Lê Thị K (Chị gái H) đã đến UBND xã K (nay là phường K) làm các thủ tục có liên quan để hoàn thiện hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Lê Văn H. Căn cứ Bản kết luận giám định số: 408/KL- KTHS ngày 21/ 3/2022; Bản kết luận giám định số: 427/KL-KTHS ngày 24/3/2022 và Bản kết luận giám định số 438/KL-KTHS ngày 30/3/2022 của Phòng K2 Công an tỉnh H đối với giám định tài liệu, kết luận: Chữ ký, chữ viết đứng tên ông Lê Văn H dưới mục “ĐẠI DIỆN BÊN B” của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; mục “Chủ hộ cam kết ký tên” của Giấy cam kết sử dụng đất đúng mục đích và mục “Bên nhận chuyển nhượng” của Sơ đồ vị trí thửa đất chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên các mẫu cần giám định so với chữ ký, chữ viết của ông Lê Văn H trên các mẫu so sánh là do cùng một người ký và viết ra. Sau khi có Kết luận giám định, Công an thị xã K đã làm việc với ông Lê Văn H để thông báo kết luận giám định và kết quả xác minh đơn nhưng ông H không đồng ý với nội dung bản kết luận.
5
Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ thu thập được, Công an thị xã K có căn cứ kết luận việc ông H tố cáo người khác giả mạo chữ ký của ông và dấu điểm chỉ của vợ để làm hồ sơ thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vay vốn Ngân hàng và việc ông tố cáo có cơ quan hoặc cá nhân đã tự ý làm hồ sơ giấy tờ và giả mạo chữ ký ông để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không có căn cứ và không đúng sự thật. Hành vi của Lê Văn H đã vi phạm vào Điểm c, Khoản 3, Điều 7, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực An ninh, trật tự, an toàn xã hội về việc “Báo thông tin giả, không đúng sự thật đến các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền”. Ngày 07/4/2022, Công an thị xã K đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 65/QĐ-XPVPHC đối với ông Lê Văn H, sinh ngày 23/3/1967, số CMTND [...], ngày cấp 27/7/2015, nơi cấp Công an tỉnh H với số tiền xử phạt 2.500.000 đồng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 22/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của TAND thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:
Căn cứ khoản 3, khoản 9 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm c Khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 94, Điều 97, Điều 98, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 184, Khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Căn cứ Điều 164, khoản 2 Điều 277, Điều 274, Điều 430, Điều 431, Điều 434, Điều 500, Bộ luật Dân sự 2015. Căn cứ Điều 100, Điều 166, Điều 167, Điều 203 Luật đất đai 2013. Điều 136, 137 Luật đất đai 2024. Căn cứ Khoản 2 Điều 26, Điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh X bà Nguyễn Thị L về việc: Công nhận hợp đồng chuyển nhượng thửa đất có Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số BĐ 719353. Thửa đất số 210, tờ bản đồ số 01/Tái định cư K. Số vào sổ cấp GCN: CH00657 ngày 09/3/2011; diện tích thửa đất 150m2; có địa chỉ: Khu tái định cư X, Xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Nay là Phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh) mang tên Lê Văn H, giữa nguyên đơn ông Trần Thanh X bà Nguyễn Thị L và bị đơn ông Lê Văn H đã hoàn thành, hợp pháp.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh X bà Nguyễn Thị L về việc: Buộc ông Lê Văn H phải trả cho vợ chồng ông Trần Thanh X bà Nguyễn Thị L 65.000.000đ (Sáu mươi lăm triệu đồng).
- Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, ông Trần Thanh X bà Nguyễn Thị L có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục về công nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đối với thửa đất có Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số BĐ 719353. Thửa đất số 210, tờ bản đồ số 01/Tái định cư K, số vào sổ cấp GCN: CH00657 ngày 09/3/2011, diện tích thửa đất 150m2; địa chỉ thửa đất: Khu tái định cư X, xã K, huyện K (N là Phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh) mang tên Lê Văn H.
6
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 08/10/2024 ông Lê Văn H kháng cáo toàn bộ nội dung bản án
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện, bị đơn ông Lê Văn H giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh sau khi nhận xét về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các bên đương sự đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn H. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 22/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của TAND thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn H hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Tòa án sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật và thụ lý giải quyết vụ án theo thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm đã xác định đúng, đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn H, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Về nguồn gốc thửa đất: Thửa đất số 210, tờ bản đồ số 01/Tái định cư Kỳ Phương diện tích 150m² là của bà Lê Thị Bé M đẻ ông Lê Văn H tặng cho H. Ông H cho rằng bà B1 đã tặng cho ông H nhưng ông H chưa làm một giấy tờ gì về mảnh đất đó vì chưa họp gia đình, chưa có giấy di chúc nên ông H chưa bán cho ông X, bà L. Ngày 09/3/2022, Công an thị xã K tiếp nhận nguồn tin từ Văn phòng UBND thị xã K “Đơn kiến nghị khẩn cấp” của ông Lê Văn H với nội dung: “Ông H được mẹ là bà Lê Thị B1 cho thửa đất rộng 6 mét, dài 25 mét trong thửa đất số 210, lộ số 14, khu TĐC, phường K là phần đất bà B1 có diện tích 425 m2. Ông H chưa đi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đã có cơ quan hoặc cá nhân nào đã tự ý làm hồ sơ giấy tờ và giả mạo chữ ký ông H để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Công an thị xã K đã tiến hành các biện pháp điều tra, tại Bản kết luận giám định số 408/KL- KTHS ngày 21/3/2022, Bản kết luận giám định số 427/KL-KTHS ngày 24/3/2022 và Bản kết luận giám định số 438/KL-KTHS ngày 30/3/2022 của Phòng K2 Công an tỉnh H kết luận: Chữ ký, chữ viết đứng tên ông Lê Văn H dưới mục “ĐẠI DIỆN BÊN B” của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; mục “Chủ hộ cam kết ký tên” của Giấy cam kết sử dụng đất đúng mục đích và mục “Bên nhận
7
chuyển nhượng” của Sơ đồ vị trí thửa đất chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên các mẫu cần giám định so với chữ ký, chữ viết của ông Lê Văn H trên các mẫu so sánh là do cùng một người ký và viết ra. Do đó, có cơ sở khẳng định ông H đã được UBND huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 210, tờ bản đồ số 01/Tái định cư Kỳ Phương diện tích 150m². Ông H cho rằng đất là do bà B1 mẹ ông H bán, ông H chỉ nhận tiền thay bà B1 số tiền bán 11m đất là 280 triệu đồng. Lời khai của ông H không có căn cứ, vì ngày 09/3/2011, UBND huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 719353, Số vào sổ cấp GCN: CH00657 cho ông Lê Văn H, năm 2013 ông X, bà L mới mua đất của ông H.
[2.2] Căn cứ Giấy xác nhận ngày 10/12/2021, biên bản lấy lời khai ngày 09/07/2024 của bà Lê Thị K, ông Lê Văn B, Biên bản tiếp công dân ngày 19/7/2021 của UBND phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2016 có chữ ký của ông H và sơ đồ vị trí chuyển nhượng thửa đất năm 2017 có chữ ký bên chuyển nhượng Lê Văn H, bên nhận chuyển nhượng ông Trần Thanh X, Nguyễn Thị L. Có cơ sở khẳng định ông H đã nhận số tiền 286 triệu đồng của ông Trần Thanh X, bà Nguyễn Thị L để chuyển nhượng phần diện tích đất 5x25m của bà Lê Thị K và phần diện tích đất 6x25 đối với thửa đất số 210, tờ bản đồ số 01/Tái định cư K của ông Lê Văn H.
[2.3] Việc mua bán đất giữa nguyên đơn, bị đơn chỉ mới có đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2016 có chữ ký của ông H và sơ đồ vị trí chuyển nhượng thửa đất năm 2017 có chữ ký bên chuyển nhượng Lê Văn H, bên nhận chuyển nhượng ông Trần Thanh X, Nguyễn Thị L. Khoản 1 Điều 129 Bộ luật Dân sự quy định: “Giao dịch dân sự được xác lập theo quy định phải bằng văn bản, nhưng văn bản đó không đúng quy định pháp luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó”. Như vậy, trong giao dịch này các bên chưa thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật, nhưng giữa ông Trần Thanh X, ông Lê Văn H đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình là ông X đã giao tiền đầy đủ cho ông H đồng thời ông H đã nhận tiền và giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình cho ông X. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn H và ông Trần Thanh X bà Nguyễn Thị L đã hoàn thành là có căn cứ.
[2.4] Đối với yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên ông Trần Thanh X bà Nguyễn Thị L về việc: Buộc ông Lê Văn H phải trả cho vợ chồng ông Trần Thanh X bà Nguyễn Thị L 65.000.000đ, là số tiền ông H chiếm dụng của bà K mà vợ chồng ông X đã phải trả thay. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện không do ai ép buộc, do đó, Hội đồng xét sơ thẩm căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng Dân sự đình chỉ giải quyết là có căn cứ.
[2.5] Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn công nhận hợp đồng mua bán quyền sử dụng đất không có giá ngạch do yêu cầu của
8
nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, buộc bị đơn ông Lê Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn H. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tại phiên toà là phù hợp.
[2.6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc ông Lê Văn H phải chịu 300.000₫ án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, bác kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm 22/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Căn cứ khoản 3, khoản 9 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm c Khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 94, Điều 97, Điều 98, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 184, Khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Căn cứ Điều 164, khoản 2 Điều 277, Điều 274, Điều 430, Điều 431, Điều 434, Điều 500, Bộ luật Dân sự 2015. Căn cứ Điều 100, Điều 166, Điều 167, Điều 203 Luật đất đai 2013. Điều 136, 137 Luật đất đai 2024. Căn cứ Khoản 2 Điều 26, Điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh X bà Nguyễn Thị L về việc: Công nhận hợp đồng chuyển nhượng thửa đất có Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số BĐ 719353. Thửa đất số 210, tờ bản đồ số 01/Tái định cư K. Số vào sổ cấp GCN: CH00657 ngày 09/3/2011; diện tích thửa đất 150m2; có địa chỉ: Khu tái định cư X, Xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Nay là Phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh) mang tên Lê Văn H, giữa nguyên đơn ông Trần Thanh X bà Nguyễn Thị L và bị đơn ông Lê Văn H đã hoàn thành, hợp pháp.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh X bà Nguyễn Thị L về việc: Buộc ông Lê Văn H phải trả cho vợ chồng ông Trần Thanh X bà Nguyễn Thị L 65.000.000đ (Sáu mươi lăm triệu đồng).
- Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, ông Trần Thanh X bà Nguyễn Thị L có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục về công nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đối với thửa đất có Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số BĐ 719353. Thửa đất số 210, tờ bản đồ số 01/Tái định cư K, số vào sổ cấp GCN: CH00657 ngày 09/3/2011, diện tích thửa đất 150m2; địa chỉ thửa đất: Khu tái định cư X, xã K, huyện K (N là Phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh) mang tên Lê Văn H.
9
Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Toà án: Buộc ông Lê Văn H phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008423 ngày 15/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hiền |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊ TÒA |
|
Hồ Đức Quang Bùi Minh T1 |
Trần Thị Thu H2 |
10
11
Bản án số 06/2025/DS-PT ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 06/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
