Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM NÔNG

TỈNH PHÚ THỌ

-----000-----

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------000---------

Bản án số: 06/2024/HSST

Ngày 17 tháng 4 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phùng Thị Kim N

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Trần Hữu T

2. Ông Nguyễn Hữu H

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà: Nguyễn Thị Đào - Cán bộ TAND huyện Tam Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tham gia phiên toà: Ông Bùi Xuân V - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tam Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Tiến Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 08/12/1986 tại huyện T, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: tổ D, khu H, P. D, TP ., tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Trần Minh H1, sinh năm 1960 (đã chết); Mẹ đẻ: Tạ Thị Thanh H2, sinh năm 1964, Vợ: Nguyễn Hải V1, sinh năm 1988; Con: Có 01 con (12 tuổi); Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại P. D, TP ., tỉnh Phú Thọ. (có mặt).

2. Họ và tên: Nguyễn Tuấn A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 15/9/1987 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: khu C, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Công T1, sinh năm 1958; Mẹ đẻ: Trần Thị H3, sinh năm 1962; Vợ: Lã Thị Thu L, sinh năm 1987; Con: Có 02 con (lớn 07 tuổi, nhỏ 01 tuổi); Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (có mặt).

3. Họ và tên: Phạm Thị N1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 14/01/1964 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: khu G, thị trấn H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 10/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Phạm Đình S, (đã chết); Mẹ đẻ: Lê Thị T2, (đã chết); Chồng: Lã Phương S1, sinh năm 1960, Con: Có 04 con (lớn 37 tuổi, nhỏ 28 tuổi); Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 13/2016/HSST ngày 10/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc”, Đã thi hành xong toàn bộ các quyết định của bản án và đương nhiên được xóa án tích; Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (có mặt).

4. Họ và tên: Phí Văn T3; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 25/5/1973 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Phí Văn H4, sinh năm 1933; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1932; Vợ: Trần Thị L2, sinh năm 1978; Con: Có 04 con (lớn nhất 25 tuổi, nhỏ nhất 11 tuổi); Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1319/QĐ-XPVPHC ngày 05/3/2021 của Ủy ban nhân dân huyện T xử phạt tiền 15.000.000đồng về hành vi “Làm chủ lô, đề”, Đã thi hành nộp phạt xong ngày 09/3/2021; Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 05 phút ngày 06/11/2023 tại nhà của Nguyễn Tuấn A ở khu F, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, tô công tác của Công an huyện T phát hiện, lập biên bản sự việc Nguyễn Tuấn A đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề với nhiều người khác thông qua nhắn tin trên điện thoại di động. Quá trình lập biên bản sự việc, tổ công tác Công an huyện T đã thu giữ của Nguyễn Tuấn A: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng số thuê bao 0961.929.533. Kiểm tra dữ liệu trên điện thoại thu giữ của Nguyễn Tuấn A đã xác định Tuấn A sử dụng tài khoản zalo “Hoài T4” để mua, bán số lô, đề với các tài khoản zalo: “Nhung”; “Nguyễn T5” và “Thăng Thắng” và chuyển đến tài khoản zalo “Sông T”. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Nguyễn Tuấn A nhưng không thu giữ được gì liên quan đến hành vi đánh bạc.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Tuấn A đã khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng tháng 8/2023, Nguyễn Tuấn A biết Trần Tiến Đ có nhận mua các số lô, số đề và Nguyễn Tuấn A biết Phí Văn T3 (T3 là anh em họ hàng với bố vợ Tuấn A) có mối quan hệ quen biết với Trần Tiến Đ nên đã hỏi T3 xin số điện thoại có tài khoản Zalo của Đ để làm quen và hai bên đã cùng nhau thống nhất thỏa thuận Tuấn A với vai trò làm thư ký ghi số lô, số đề cho Đ và Đ sẽ tính 21.700đồng/01 điểm lô và 71% số tiền ghi số đề (còn bán cho người chơi như thế nào là do Tuấn A) rồi lập bảng tổng hợp chuyển cho Đ trước 18 giờ 10 phút hàng ngày, Tuấn A dùng điện thoại nhắn tin qua tài khoản Zalo của Tuấn A là “Hoài T4” đăng ký bằng số điện thoại 0566.012.xxx gửi cho tài khoản Zalo của Đ là “Sông T” đăng ký bằng số điện thoại 0854.842.xxx với vai trò là chủ đề. Đ và Tuấn A thỏa thuận nếu nhận mua số lô số đề nào thì sẽ nhắn tin xác nhận lại để đồng ý và sau khi có kết quả thì hai bên tính toán thắng thua và thanh toán với nhau sau.

Ngày 06/11/2023, Nguyễn Tuấn A, sử dụng điện thoại di động Iphone 7 Plus (đã bị cơ quan điều tra thu giữ trên) để đăng nhập tài khoản Zalo “Hoài T4” đăng ký bằng số thuê bao 0566.012.017 ghi số lô số đề ở nhà mình với một số người qua tin nhắn Zalo, cụ thể:

Khoảng 17 giờ 55 phút, Phí Văn T3 sử dụng tài khoản Zalo tên “Thăng Thắng” nhắn tin cho Tuấn A ghi 475 điểm lô với tổng số tiền đánh bạc là 10.925.000đồng và chưa thanh toán với nhau.

Khoảng gần 18 giờ với Phạm Thị N1 (là mẹ vợ Nguyễn Tuấn A) sử dụng 02 tài khoản Zalo tên “Nguyễn T5” và “Nhung” ghi số lô số đề với số tiền lần lượt mỗi tài khoản Zalo là 2.526.000đồng và 16.091.000đồng, tổng số tiền đánh bạc là 18.617.000đồng và chưa thanh toán với nhau.

Sau đó Tuấn A tổng hợp rồi chuyển toàn bộ bảng đề ghi các số lô số đề trên cho Trần Tiến Đ sử dụng tài khoản Zalo tên “Sông T” gồm 7 tin nhắn (6 hình ảnh và 01 văn bản) với tổng số tiền là 29.542.000đồng, Đ đã xác nhận đồng ý các tin nhắn này.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Tuấn A, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã triệu tập Phạm Thị N1 đến làm việc, các đối tượng Trần Tiến Đ và Phí Văn T3 đã đến đầu thú tại Cơ quan điều tra Công an huyện T. Tại cơ quan điều tra, các đối tượng Trần Tiến Đ, Phí Văn T3 và Phạm Thị N1 đều khai nhận hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc vào ngày 06/11/2023 phù hợp với lời khai nhận của Nguyễn Tuấn A, kết quả kiểm tra dữ liệu trên điện thoại thu giữ của Nguyễn Tuấn A và các tài liệu cơ quan điều tra thu thập được, do sau khi biết Nguyễn Tuấn A bị phát hiện vì lo sợ nên các đối tượng trên đều đã xoá các tin nhắn liên quan và vứt bỏ điện thoại đã sử dụng ghi lô đề với Tuấn A đi, số thuê bao các đối tượng sử dụng đăng ký tài khoản Zalo trên đều là số thuê bao rác, cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không xác định được. Quá trình điều tra, Phí Văn T3 đã tự nguyện giao nộp số tiền đánh bạc ngày 06/11/2023 là 10.925.000đồng.

Về cách thức ghi số lô, đề như sau: Các số lô, số đề là các số tự nhiên từ 00 đến 99, người chơi có thể ghi các số tự chọn với số tiền tùy ý. Đối với số đề: Nếu số đã ghi trùng với hai số cuối giải đặc biệt kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày, thì người ghi sẽ được hưởng số tiền gấp 70 lần số tiền đã ghi đề. Số đề ba càng thì nếu số đã ghi trùng với ba chữ số cuối của giải đặc biệt kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày, thì người ghi sẽ được hưởng số tiền gấp 350 lần số tiền đã ghi. Về số tiền ghi đề, khi thanh toán Tuấn A sẽ khuyến mại cho người ghi tùy mối quan hệ quen biết. Đối với số lô thì ghi theo điểm tính (mỗi điểm tính bằng 23.000đồng hoặc tùy mối quan hệ), nếu số đã ghi trùng với hai số cuối của tất cả các giải xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày thì người ghi sẽ được hưởng 80.000đồng/1điểm lô, trường hợp số lô trùng nhiều lần trong các giải thì người ghi sẽ nhận số tiền tương ứng gấp số lần trùng nhau số lô đã mua (tính không quá 3 lần), nếu không trùng thì sẽ mất số tiền đã ghi. Ngoài ra Nguyễn Tuấn A và Trần Tiến Đ còn có vài lần khác đánh bạc với nhau, nhưng các đối tượng đều không nhớ thời gian, số lô đề và số tiền cụ thể, các tài liệu liên quan các đối tượng đã xóa hết nên không có căn cứ xác định để xử lý.

Tại bản cáo trạng số: 04/CT-VKSTN ngày 11 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Trần Tiến Đ và Nguyễn Tuấn A về tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 322 Bộ luật Hình sự, bị cáo Phạm Thị N1 và Phí Văn T3 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Tiến Đ và Nguyễn Tuấn A phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, các bị cáo Phạm Thị N1 và Phí Văn T3 phạm tội “Đánh bạc”.

+ Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 322; điểm s, khoản 1 và khoản 2, Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Tiến Đ phạt tiền từ 70.000.000đồng đến 80.000.000đồng.

+ Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 322; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Tuấn A phạt tiền từ 60.000.000đồng đến 70.000.000đồng.

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Thị N1 phạt tiền từ 35.000.000đồng đến 40.000.000đồng.

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phí Văn T3 phạt tiền từ 30.000.000đồng đến 35.000.000đồng.

Hình phạt bổ sung: Các bị cáo đã bị xử hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng gồm:

+ Tịch thu và tiêu hủy: 01 phôi sim điện thoại của số thuê bao 0961.929.533 (thu giữ của Nguyễn Tuấn A).

+ Tịch thu bán nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng (thu giữ của Nguyễn Tuấn A).

+ Tịch thu nộp ngân sách của Nhà nước: số tiền 10.925.000đồng là tiền đánh bạc (Phí Văn T3 tự nguyện giao nộp).

+ Thu hồi để nộp ngân sách Nhà nước đối với Phạm Thị N1 số tiền: 18.617.000đồng (là tiền Nho đánh bạc với Nguyễn Tuấn A nhưng chưa thanh toán).

Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định và hợp pháp.

[2]. Về những chứng cứ xác định các bị cáo có tội: Xét lời nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản sự việc, biên bản kiểm tra điện thoại của cơ quan điều tra và vật chứng đã thu được phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ ngày 06/11/2023, tại nhà của Nguyễn Tuấn A ở tại khu F, xã H, huyện T, Nguyễn Tuấn A đã có hành vi tổ chức đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề với Phí Văn T3 và Phạm Thị N1 rồi tổng hợp chuyển toàn bộ các bảng đề trên cho Trần Tiến Đ với tổng số tiền là 29.542.000đồng (Hai mươi chín triệu năm trăm bốn mươi hai nghìn đồng) đã bị Tổ công tác của Đội điều tra hình sự Công an huyện T kiểm tra, phát hiện.

Các đối tượng Phạm Thị N1 và Phí Văn T3 đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề với Nguyễn Tuấn A, số tiền đánh bạc của các đối tượng là: Phạm Thị N1 là 18.617.000đồng (Mười tám triệu sáu trăm mười bảy nghìn đồng); Phí Văn T3 là 10.925.000đồng (Mười triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo Trần Tiến Đ và Nguyễn Tuấn A đã phạm vào tội “Tổ chức Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 322 Bộ luật hình sự.

Điểm c, Khoản 1, Điều 322 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên;

Hành vi của các bị cáo Phạm Thị N1 và Phí Văn T3 đã phạm vào tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000đ hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

[3]. Xét tính chất vụ án là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của các bị cáo đã gây mất trật tự trị an ở địa phương. Bởi lẽ vấn nạn cờ bạc là một trong các tệ nạn xã hội mà nhà nước ta đang quản lý chặt chẽ, nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân đánh bạc dưới mọi hình thức để làm lành mạnh các quan hệ xã hội, từ việc đánh bạc thường dẫn đến những tội phạm khác, ảnh hưởng đến trật tự công cộng vì vậy đấu tranh với tội phạm này là rất cần thiết, cần đưa ra xét xử nghiêm trước pháp luật.

[4]. Xét vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo như sau:

Trong vụ án này, Trần Tiến Đ và Nguyễn Tuấn A giữ vai trò là người tổ chức đánh bạc, Phạm Thị N1 và Phí Văn T3 đều giữ vai trò là người thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi đánh bạc.

[4.1]. Đối với bị cáo Trần Tiến Đ và Nguyễn Tuấn A giữ vai trò là người tổ chức đánh bạc, bằng hình thức Nguyễn Tuấn A ghi số lô, số đề với Phí Văn T3 và Phạm Thị N1 rồi chuyển toàn bộ bảng đề gồm các số lô số đề ghi trên cho Trần Tiến Đ với tổng số tiền tổ chức đánh bạc là 29.542.000đồng (Hai mươi chín triệu năm trăm bốn mươi hai nghìn đồng) nên đánh giá bị cáo Trần Tiến Đ và Nguyễn Tuấn A là người giữ vai trò chính. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hai bị cáo Trần Tiến Đ và Nguyễn Tuấn A đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Ngoài ra, Trần Tiến Đ tự ra đầu thú, nên bị cáo Trần Tiến Đ còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4.2]. Đối với bị cáo Phạm Thị N1 là người thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi đánh bạc, xét thấy Phạm Thị N1 nhân thân đã bị xét xử nhưng đã thi hành xong và đương nhiên được xóa án tích. Sau khi phạm tội lần này bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo Phạm Thị N1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[4.3]. Đối với bị cáo Phí Văn T3 là người thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi đánh bạc. xét thấy Phí Văn T3 nhân thân đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng đã thi hành nộp phạt xong. Bị cáo là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, Phí Văn T3 tự ra đầu thú và đã tự nguyện nộp lại số tiền đánh bạc. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Các bị cáo đều có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay và xác minh tài sản của các bị cáo xác định các bị cáo hiện đều đang sinh sống cùng gia đình, có tài sản chung và không có tài sản riêng gì có giá trị. Các bị cáo đều là lao động tự do, có thu nhập ổn định, thu nhập bình quân hàng tháng Nguyễn Tuấn A, Trần Tiến Đ và Phí Văn T3 đều là 5.000.000đồng, Phạm Thị N1 là 4.000.000đồng. Vì vậy không cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo với mức hình phạt tương ứng với số tiền các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Trần Tiến Đ tổ chức đánh bạc và các bị cáo Phạm Thị N1 và Phí Văn T3 đánh bạc cũng đủ điều kiện giáo dục các bị cáo trở thành người tốt và có ích cho gia đình và xã hội.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đã bị xử phạt hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.

[6]. Về vật chứng:

- Đối với số tiền 10.925.000đồng (Mười triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng N2 là tiền đánh bạc ngày 06/11/2023 của Phí Văn T3 đã tự nguyện giao nộp cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp.

- Đối với số tiền 18.617.000đồng (Mười tám triệu sáu trăm mười bảy nghìn đồng) là tiền Phạm Thị N1 đánh bạc với Nguyễn Tuấn A nhưng chưa thanh toán cần thu hồi để nộp ngân sách Nhà nước đối với Phạm Thị N1 là phù hợp.

- Đối với 01 phôi sim điện thoại của số thuê bao 0961.929.533 (thu giữ của Nguyễn Tuấn A) là công cụ liên lạc sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu và tiêu hủy là phù hợp.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng (có đặc điểm như biên bản thu giữ của Nguyễn Tuấn A) là công cụ liên lạc sử dụng đánh bạc cần tịch thu bán nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp.

[7]. Đối với những người ghi số lô số đề của Phạm Thị N1 (theo lời khai của N1) là khách qua đường, N1 không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể những người này ở đâu, vì vậy không có căn cứ để xử lý những người trên về hành vi đánh bạc theo quy định, xét thấy là phù hợp.

[8]. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ Điều 322 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố các bị cáo: Trần Tiến Đ và Nguyễn Tuấn A phạm tội “Tổ chức đánh bạc".

Căn cứ Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố các bị cáo: Phạm Thị N1 và Phí Văn T3 phạm tội “Đánh bạc”.

+ Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 322; điểm s, khoản 1 và khoản 2, Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Trần Tiến Đ phạt tiền 80.000.000đồng (Tám mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

+ Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 322; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Tuấn A phạt tiền 70.000.000đồng (Bảy mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Phạm Thị N1 phạt tiền 40.000.000đồng (Bốn mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1 và khoản 2, Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Phí Văn T3 phạt tiền 35.000.000đồng (Ba mươi lăm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

[2]. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Trần Tiến Đ, Nguyễn Tuấn A, Phạm Thị N1, Phí Văn T3.

[3]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) phôi sim điện thoại của số thuê bao 0961.929.533 (thu giữ của Nguyễn Tuấn A).

+ Tịch thu bán nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng (có đặc điểm như biên bản thu giữ của Nguyễn Tuấn A).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông)

+ Tịch thu nộp ngân sách của Nhà nước: số tiền 10.925.000đồng (Mười triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng) (Hiện đang tạm giữ tại tài khoản số: 3949.0.1053898.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông).

+ Thu hồi để nộp ngân sách Nhà nước đối với Phạm Thị N1 số tiền: 18.617.000đồng (Mười tám triệu sáu trăm mười bảy nghìn đồng).

[4]. Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc các bị cáo Trần Tiến Đ, Nguyễn Tuấn A, Phạm Thị N1, Phí Văn T3, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Áp dụng điều 26 Luật thi hành án dân sự, các bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự, nếu không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 7a, điều 9 Luật thi hành án dân sự.

[5]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm các bị cáo (có mặt) được quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh phú thọ xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhân:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ;
  • - THAHS, DS huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở tư pháp;
  • - UBND xã Hương nộn, huyện Tam Nông;
  • - UBND TT Hưng Hóa, huyện Tam Nông;
  • - UBND xã Đào Xá, huyện Thanh Thủy;
  • - UBND phường Dữu Lâu, tp Việt Trì.
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS, AV.

T/M .HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phùng Thị Kim Nguyên

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/HSST ngày 17/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG - TỈNH PHÚ THỌ về tổ chức đánh bạc và đánh bạc (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 06/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG - TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội Tổ chức đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger