Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/KDTM - ST
Ngày 15 - 7 - 2024
V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Bắc

Ông Quản Giang Thao

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Viết Chiến - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2024/TLST – KDTM ngày 19/3/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST- KDTM ngày 07 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên số 07/2023/QĐST – KDTM ngày 21 tháng 6 năm 2023, Giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty TNHH V

Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận

Người đại diện theo Pháp luật: Bà Nguyễn Thị L – Chức vụ: Giám đốc;

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Ngọc H, sinh năm 1976

Địa chỉ: Tổ C, khu phố C, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

(Theo Giấy ủy quyền ngày 05/7/2024)

2. Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ1.

Địa chỉ: Số H, đường L, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Người đại diện theo Pháp luật: Ông Nguyễn Hữu L1 – Chức vụ: Giám đốc

Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Trần Việt Đ, sinh năm 1989

Địa chỉ: Tiểu khu F, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn; vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án đại diện của nguyên đơn trình bày:

Vào năm 2021 Công ty TNHH V và Công Ty cổ phần Đ1 tiến hành ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá, Công ty TNHH V bán các loại vật liệu xây dựng cho Công ty Cổ phần Đ1, đến cuối năm 2021 các bên đã đối chiếu công nợ và sau đó đến ngày 02/01/2022 các bên đã ký kết hợp đồng mua bán số 002/HĐMB/2022/HL –HT căn cứ theo nội dung và các điều khoản thoả thuận có trong hợp đồng Công ty TNHH V bán cho Công ty cổ phần Đ1 các mặt hàng xây dựng, các loại bao xi măng và các vật liệu xây dựng khác để các bên làm thủ tục báo cáo thuế đối với các mặt hàng mà Công ty V đã bán cho Công ty cổ phần Đ1 vào năm 2021.

Sau khi đối chiếu công nợ và ký kết hợp đồng nêu trên, Công ty TNHH V đã bán cho Công ty Cổ phần Đ1 và căn cứ theo biên bản đối chiếu công nợ năm 2021 Công ty cổ phần Đ1 còn nợ Công ty TNHH V số tiền là 882.001.673 đồng, sau nhiều lần Công ty TNHH V yêu cầu trả nợ nhưng Công ty Cổ phần Đ1 mới trả cho Công ty TNHH V vào ngày 23/3/2022 và ngày 22/9/2022 là 130.000.000 đồng và đến ngày 19/01/2023 là 200.000.000 đồng. Sau đó không thực hiện nghĩa vụ thanh toán như các bên đã cam kết. Tính đến ngày 15/7/2024 Công ty Cổ phần Đ1 còn nợ Công ty TNHH V số tiền cụ thể là:

  • -Tiền gốc: 552.001.673 đồng;
  • -Tiền lãi: 147.837.213 đồng;
  • Tổng số tiền còn nợ: 699.838.886 đồng.

Nay Công ty TNHH V đề nghị Toà án buộc Công ty Cổ phần Đ1 trả toàn bộ khoản nợ trên cho Công ty TNHH V.

Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Công Ty Cổ phần Đ1 có ký hợp đồng mua bán hàng hóa là bao xi măng các loại với Công ty TNHH V, quá trình mua bán chúng tôi có thanh toán tiền hàng cho Công ty TNHH V, tính đến tháng 12 năm 2021 còn nợ số tiền hàng là 882.001.673 đồng. Do khó khăn về tài chính, trùng với giai đoạn dịch Covid chúng tôi cũng đã trao đổi với Công ty V về việc giãn thời gian thanh toán, đến ngày 23/3/2022 và 22/9/2022 chúng tôi có thanh toán được một khoản 130.000.000 đồng và tiếp tục xin gia hạn, giãn thời gian thanh toán giữa hai bên, đến ngày 19/01/2023 chúng tôi thanh toán tiếp 200.000.000 đồng; đến nay tổng công nợ tiền hàng cần thanh toán là 552.001.673 đồng, đến nay công ty vẫn chưa qua được quãng thời gian khó khăn về tài chính, chúng tôi kính mong quý công ty V đồng cảm và cùng gia hạn thời gian thanh toán khoản tiền công nợ nói trên đến hết năm 2024.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc Công ty cổ phần Đ1 phải trả tổng số tiền cả gốc và lãi tính đến ngày 15/7/2024 là 699.838.886 đồng

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Công ty TNHH V yêu cầu Tòa án buộc Công ty cổ phần Đ1 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền nợ theo Hợp đồng mà hai bên đã ký kết với nhau. Đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 30 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ tại thị xã N, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Về yêu cầu thanh toán khoản nợ gốc:

Theo Hợp đồng mua bán số: 002/HĐMB/2021/HL-HT ngày 20/5/2021 và phụ lục hợp đồng số 002A/HĐMB/2021/HL-HT ngày 05/10/2021 Công ty TNHH V bán cho Công ty cổ phần Đ1 các loại bao xi măng và các vật liệu xây dựng khác. Theo bản đối chiếu công nợ tháng 12 năm 2021 Công ty cổ phần Đ1 còn nợ Công ty TNHH V số tiền là 882.001.673 đồng; ngày 23/3/2022 Công ty cổ phần Đ1 đã thanh toán cho Công ty TNHH V số tiền là 100.000.000 đồng, ngày 22/9/2022 Công ty cổ phần Đ1 đã thanh toán cho Công ty TNHH V số tiền là 30.000.000 đồng, đến ngày 19/01/2023 Công ty cổ phần Đ1 thanh toán tiếp cho Công ty TNHH V số tiền là 200.000.000 đồng, số tiền còn nợ lại là 552.001.673 đồng.

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số nợ gốc là 552.011.673 đồng, bị đơn thừa nhận khoản nợ gốc này, đây là tình tiết thuộc trường hợp những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH V buộc Công ty cổ phần Đ1 phải trả số tiền còn nợ là 552.001.673 đồng.

[2.2] Đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi:

Công ty TNHH V yêu cầu Tòa án buộc Công ty cổ phần Đ1 trả số tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày xét xử (ngày 15/7/2024) như sau:

  • -Tiền lãi chậm thanh toán của số tiền 882.000.000 đồng tính từ tháng 12 năm 2021 đến tháng 3 năm 2022: 882.000.000 x 0,75%/tháng x 3 tháng = 19.845.000 đồng.
  • -Tiền lãi chậm thanh toán của số tiền 782.000.000 đồng tính từ tháng 4 năm 2022 đến tháng 9 năm 2022: 782.000.000 x 0,75%/tháng x 6 tháng = 35.190.000 đồng.
  • -Tiền lãi chậm thanh toán của số tiền 752.000.000 đồng tính từ tháng 10 năm 2022 đến tháng 01 năm 2023: 752.000.000 x 0,75%/tháng x 4 tháng = 22.560.000 đồng.
  • -Tiền lãi chậm thanh toán của số tiền 552.001.673 đồng tính từ tháng 02 năm 2023 đến tháng 11 năm 2023: 552.001.673 x 0,75%/tháng x 10 tháng = 39.192.119 đồng.

Tổng số tiền lãi tính đến tháng 11 năm 2023 là 116.787.119 đồng, tại biên bản đối chiếu công nợ ngày 28/11/2023 ông Nguyễn Hữu L1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần Đ1 xác nhận còn nợ Công ty TNHH V số tiền gốc đến ngày 28/11/2023 là 552.001.673 và tiền lãi là 116.787.119 đồng.

Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả thêm khoản tiền lãi của số tiền 552.001.673 đồng tính từ tháng 12/2023 đến ngày 15/7/2024 là 31.050.094 đồng.

Tổng số tiền lãi Công ty cổ phần Đ1 phải trả là: 147.837.213 đồng.

Theo mục 3-4 Điều 3 của hợp đồng mua bán các bên có thỏa thuận về chậm thanh toán như sau: “Trong trường hợp bên B ( Công ty cổ phần Đ1) không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bên A (Công ty TNHH V) theo đúng thời hạn quy định của hợp đồng này, ngoài việc phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán đó, bên B có nghĩa vụ thanh toán cho bên A một khoản lãi với mức lãi suất chậm trả là 0,75%/tháng trên tổng số tiền chậm trả”

Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên nguyên đơn yêu cầu tính lãi đối với số tiền chậm trả, mức lãi suất và thời gian chịu lãi suất theo yêu cầu của nguyên đơn là đúng với sự thỏa thuận của các bên và phù hợp với quy định tại Điều 306 Luật thương mại và Điều 357, 468 Bộ luật dân sự, nên có căn cứ để chấp nhận.

Vì vậy, có căn cứ để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc Công ty cổ phần Đ1 phải trả cho Công ty TNHH V tổng số tiền cả gốc và lãi tính đến ngày 15/7/2024 là 552.001.673 + 147.837.213 = 699.838.886 đồng.

[3] Về án phí: Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp được trả lại cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 430, Điều 440 và Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 24, Điều 50, Điều 55, Điều 306 Luật Thương mại; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQ14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH V:

    Buộc Công ty Cổ phần Đ1 phải trả cho Công ty TNHH V tổng số tiền cả gốc và lãi tính đến ngày 15/7/2024 là 699.838.886 đồng (sáu trăm chín mươi chín triệu, tám trăm ba mươi tám nghìn, tám trăm tám mươi sáu đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không trả tiền hoặc trả không đầy đủ thì hàng tháng phải chịu thêm khoản tiền lãi. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

  3. Về án phí:
    • - Công ty cổ phần Đ1 phải nộp 31.993.555 đồng (ba mươi mốt triệu, chín trăm chín mươi ba nghìn, năm trăm năm mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Trả lại cho Công ty TNHH V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 15.650.000 đồng (Mười lăm triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số: 0007103 ngày 19/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Phạm Ngọc Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/KDTM - ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 06/2024/KDTM - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hành hóa
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger